10. Đêm sum họp gia đình và phía sau màn kịch ngày 14 tháng 2. Câu chuyện tình trong bóng tối và những cuộc tìm kiếm chạy vòng quanh (phần 3)
Có những điều mà dù muốn hay không, thì chúng vẫn cứ ám ảnh Arthur Kirkland cho đến tận mãi ngày hôm nay. Khi chiếc đồng đồ bắt đầu đếm ngược lại quãng thời gian hạnh phúc của người khác, thì anh, lại lật lại những trang kí ức đau khổ của mình và nhìn thấy chui từ trong đó ra, chẳng khác nào truyện Harry Potter, những bóng ma của thời quá khứ đang dần hiện về. Chúng quây lại thành một đường tròn xung quanh tâm bão là anh, rồi xoay vòng trong nỗi điên cuồng dữ dội, nhấn chìm tất cả; trước khi mọi thứ trở về với sự bình yên rình rập vốn có và sớm bị rơi vào lãng quên. Nước rút xuống ống thoát nước. Anh hồi sức, vặn chặt lại cái vòi hoa sen để cho nó không bị rỏ nước nữa, và tiếp tục cuộc đời trong nỗ lực tuyệt vọng muốn chống lại tất cả những gì thuộc về mình, những gì mình đã từng trải qua, và những gì khiến anh nghĩ nó sẽ là cái gai trong mắt cho viễn cảnh về tương lai của anh sau này.
Thế nhưng tương lai của anh có gì? Một màn chắn xuất hiện trước mắt anh, ánh sáng của một ngày mới xuyên qua và tất cả như một sự nóng hừng hực bị che khuất bởi tấm màn chắn đó. Arthur mím môi, và mở to mắt đón nhận cái câu trả lời mang đầy nghĩa hàm ẩn và tính thách thức đó, như một kẻ thù giấu mặt; mà thấy cột sống của mình hơi lành lạnh.
Quay trở về với hiện thực đen tối mà Arthur đang bị vướng phải. Đêm Valentine. Muốn yên thân cũng còn không xong. Phải lọ mọ ra tận ngoài này để đi tìm thằng em chết tiệt của mình về. Nhưng rốt cuộc thì nó trốn đi đằng nào cơ chứ?
"Các người... các người có biết cái thằng bé đó là ai không?" Arthur hỏi đám vệ sĩ, người như đang muốn tức điên lên. "Nhưng mà quan trong hơn hết, là các ngươi đã gặp cái thằng bé mắc dịch đó ở đâu, hả?!"
Đám vệ sĩ ngơ ngác nhìn nhau, "Hơ... nhưng thưa Công tử Kirkland, vậy ra đứa trẻ đó không phải là em họ của cậu sao?"
"Hả? Thằng nhóc đó là em của anh à? Sao kì vậy, trước giờ tôi có nghe nói tới nó đâu," Amelia đứng bên cạnh cũng chêm vào. "Ê, Arthur, không phải nhà anh vừa mới đào đâu thêm một đứa lông mày sâu róm nữa chứ?"
"Trời ơi nó đúng là em họ của tôi!" Arthur tuyệt vọng rít lên. "Nhưng mà tại sao nó lại xuất hiện ở đây? Các người đã nhìn thấy nó ở đâu? Và ai đã ra lệnh cho các người đuổi theo nó?"
"Dạ thưa, xin Công tử Kirkland bớt giận. Chúng tôi vẫn đang cố hết sức để tìm ra em trai của công tử, nhưng cậu ta nhanh nhẹn và láu lỉnh quá. Hơn nữa, chúng tôi chỉ được lệnh từ cậu Giovanni Vargas là theo sát cậu ta thôi, chứ không được phép làm cho cậu ta mất vui ạ. Công tử Vargas tìm thấy em trai của Ngài ở dãy phòng nghỉ, gần chỗ hành lang Saint-Eugenie cùng với Tiểu thư Ashley Kirkland. Vì nghi ngờ thân thế của cậu Allistor nên cậu Vargas mới sai chúng tôi..."
"Khoan!" Athur ra hiệu cho tay vệ sĩ ngưng lại. "Ngươi vừa nói ai kia? Ngươi vừa gọi cái thằng ranh đó là gì?"
"Ơ... dạ, là cậu Allistor ạ," tên vệ sĩ trả lời.
Những trang hồi ức đầy ám ảnh bỗng quay lại, đập thẳng vào đầu Arthur khi anh nghe đến đoạn ấy. Cái gì? Ai kia? Người nào? Những câu hỏi cứ liên tục đập qua đập lại trong đầu anh như một trái bóng nảy qua nảy lại và vang lên những tiếng không dứt. Và bóng hình của người anh trai hiện về. "Allistor", hay còn có biệt danh là Scott, với kí ức về cái chết của người đàn bà đẹp nhất châu Âu thuở ấy, Hedy Lamarr, cùng hiện về một lượt, vồ vập và như muốn ăn tươi nuốt sống cái-thằng-bé-Arthur-mới-bốn-tuổi trong tâm tưởng anh. Allistor Kirkland rời đi không chút gì tiếc nuối. Và Arthur, cậu em trai bé bỏng và hay khóc nhè của anh, cũng không hề nhớ là mình đã từng có cảm xúc gì khi nghe mẹ nói, "Từ giờ con không phải nhắc đến cái tên ấy nữa, Arthur. Mau mau đi uống sữa rồi về phòng ngủ đi."
"Nhưng anh Scott..."
"Mẹ đã bảo là đi ngủ! Ông Montgomery, ông dẫn nó ra đi."
Mệnh lệnh của bà Kirkland ngay lập tức được thi hành. Và Arthur bỗng nghe thấy tiếng "Xoảng!" của một chiếc li thuỷ tinh bị ném vỡ khi lão quản gia Montgomery khép lại cánh cửa phòng ngủ của mẹ đằng sau lưng mình. Đó là năm 2000. Và mảnh kí ức đó liền khoác lên mình một tấm áo choàng đen, tiếp tục lò dò ám theo thân chủ của mình cho đến tận mười bốn năm sau; vào ngày 14 tháng 2 năm 2014, khi Arthur nhận ra là từ nào đến giờ anh vẫn như đang trốn chạy, phủ nhận sự tồn tại của kí ức trong tâm trí anh vì anh tin đó là cách tốt nhất để tiếp tục cuộc sống, thì anh lại những muốn hét lên; và trở nên nông nổi bốc đồng khi bị bắt phải đối đầu trực diện với nó:
"Ngươi vừa nói cái gì hả? Allistor nào kia? Thằng bé đó tên là Peter Kirkland, một cái thằng nhãi ranh như nó mà sao dám tự mạo nhận mình là Allistor kia chứ! Nó là Peter Kirkland, Peter, nghe rõ chưa hả đồ ngu?" Arthur xông vào túm lấy cổ áo của tay vệ sĩ. "Chúng bay đúng là đồ vô tích sự. Mau mau đi tìm nó về đây, không thì chết với ta!"
"Không thể nào! Nhưng thưa cậu Kirkland, chính em họ của cậu đã bảo với Công tử Vargas — thậm chí còn trình ra cả một tấm vé nữa — nói rõ cậu ta là Allistor Kirkland."
"Nhóc con đó không thể nào là Allistor Kirkland được," Cuối cùng Amelia lên tiếng xác thực. "Ta đã quá quen với cái bản mặt của lão Scott từ hồi còn mới nằm trong nôi rồi. Ổng già hơn ta những mười sáu tuổi — thậm chí hồi lên bảy tuổi được mẹ dẫn đi chơi đến Brazil còn gặp ông ấy đang đú đởn với gái nữa mà. Bây giờ mà gặp lại, không biết cái ông già đó có còn trẻ trung phong độ được như ngày xưa nữa không, chứ đừng nói là bị "nhi đồng hoá" cho thành ra như thế này."
Cả hai tên vệ sĩ giật mình, "Sao?! Vậy tức là... đứa trẻ đó đã đưa cho chúng ta một tấm vé giả à?"
"Cái vé đó đâu thể làm giả được," Amelia cau mày. "Nhưng kể vậy thì cũng lạ. Làm sao cái thằng Peter đó lại có được tấm vé của lão Scott kia chứ?"
"Giời ơi, cô hỏi cái câu đó thì bố thằng nào biết?" Arthur giơ hai tay lên trên trời. "Thôi, đủ rồi. Đừng cà kê ở đây làm gì cho mất thời gian nữa. Các ngươi mỗi người chia ra làm hai ngả, thông báo thêm cho các vệ sĩ khác tới Vườn Hoa Hồng nữa để tìm ra cho bằng được thằng bé. Ta sẽ đi hướng này. Còn Amelia, nếu cô không làm cái gì mà chỉ ngồi ở đó rung đùi, thì chí ít cũng phải đứng dậy chỉ huy bọn này hộ tôi đi!"
"Ơ? Này Arthur, anh có cần phải nôn nóng đến vậy không? Có mỗi việc kiếm một đứa trẻ thôi mà cứ như là huy động cả một đoàn quân đi lục soát cả cái vườn này vậy," Amelia nói.
"Việc nó mất tích còn nghiêm trọng hơn những gì mà cô nghĩ đấy! Đã nói là giúp tôi thì cứ thế mà giúp đi, đừng có mà hỏi han lung tung lên nữa, chứ tôi khổ lắm rồi," Arthur cắt ngang lời của Amelia, rồi vội vã chạy đi tìm Peter thật; để lại cho Amelia há hốc miệng đứng lại đó với nhiệm vụ là chỉ đạo đám vệ sĩ đi tìm Peter. Thằng bé đó không thể trốn đi đâu xa, chắc chắn là chỉ quanh quẩn gần khu vực này thôi. Và Arthur phải tìm cho ra nó trước khi buổi tiếp tân bắt đầu!
Dạ hội đêm Thánh Valentine không phải lúc nào cũng làm cho con người ta cảm thấy thoải mái. Nhất là sau hơn mười lăm năm chứng kiến những buổi hội xuân tưng bừng như thế này rồi; Phu nhân Lise Jeanne d'Orleans, cuối cùng cũng đã có chút gì được gọi là bớt hứng thú với chúng. Dù thi thoảng trong đời sống nội tâm cô cũng có nhớ về các buổi dạ tiệc của những năm đầu thập niên 90. Năm 1994, khi Lise mới mười sáu tuổi và được mời đến dự một buổi dạ hội lớn do Phu nhân Madeleine De Guignes-et-Crétain tổ chức tại Toà thị chính; cô là một trong những học sinh của W Academy được nhận thiếp mời vì thành tích học tập xuất sắc của mình, "Hơn nữa, em cũng cần phải đến dự dạ hội một lần đi, Lise ạ," Thầy Julius Vargas, lúc đó đang là chủ nhiệm Khoa Văn học-Lịch sử trước khi được tiến cử vào chức Hiệu trưởng nhà trường, nói, "Đã là học sinh của W Academy thì chí ít cũng phải biết khiêu vũ với ngoại giao một chút chứ." Công tử Francis Bonnefoy của hai mươi năm trước bỗng dưng xông ra từ một bụi cây trong vườn hoa khiến cho cô giật mình suýt hét toáng lên. Nhưng cậu đã nhanh chóng chồm tới bịt miệng Lise lại và chờ cho một đám các vị tiểu thư dáo dác quanh vườn hoa gọi tên cậu mãi mà không thấy đâu đi khuất rồi, thì mới chịu buông cô ra, thở phào nhẹ nhõm.
"May quá, họ đi rồi," Francis lẩm bẩm. "Người đâu mà bám dai thế không biết."
Lise bèn vung tay đập vào vai cậu chàng lạ hoắc đó một phát, "Này, có chuyện gì vừa xảy ra vậy? Cậu là ai?"
"Hả? Cậu không biết tôi là ai ư?" Francis ngạc nhiên, rồi nhìn cô một hồi. "Chà, một vị tiểu thư xinh xắn như thế này mà lại không biết tôi là thế nào?"
"Nói ngay kẻo tôi cho cậu ăn vả đấy," Lise nghiêm túc.
"Ấy! Tôi biết rồi, đừng đánh. Chà, con gái gì mà cứ đòi thượng cẳng tay hạ cẳng chân vậy," Francis cười trừ. "Mà có thực là cậu không biết tôi không đấy? Tôi là Francis Bonnefoy, "Francis Bonnefoy" đấy, liệu cậu có nghe qua chưa?"
Lise ậm ừ một lát, rồi chơm chớp mắt, nói, "Ừ thì nghe cũng quen quen."
Trời! "Nghe cũng quen quen" cơ đấy! Nội câu đó thôi là đã đủ giáng cho Francis một đòn chí mạng rồi. Cậu nổi tiếng thế này, hào hoa giàu có thế này, có nhiều bạn gái thế này, lại là người thừa kế chính tông của dòng tộc Bonnefoy danh tiếng khắp thế giới ai ai cũng biết mặt chứ đừng nói là phải nhắc đến tên thì mới nhớ — thế mà lại có người dám ngó lơ cậu như vậy đấy. Francis, do sốc quá mà lùi nhanh lại, rồi gập người xuống, tay phải ôm lấy trán như đang bị một cơn buồn nôn; có thể là đối với Lise của hai mươi năm trước thì đó quả là một động tác khó hiểu; nhưng đối với Lise của hai mươi năm sau, đang thảnh thơi ngồi trong vườn hoa hồng và hoài niệm những năm tháng xưa cũ, thì vẻ mặt của Francis khi ngước nhìn cô trong quá khứ, ngay sau cái giây phút bị dộng cho một đòn tinh thần đau điếng ấy, quả là buồn cười không đỡ được.
Lise cười khúc khích một mình, và tiếp tục nhớ lại hình ảnh của Công tử Francis Bonnefoy ngày nào vẫn hiện rõ mồm một trong đầu mình: trợn tròn mắt nhìn cô, kinh ngạc không thốt nên lời, mà khi mở miệng nói được thì cũng hỏi cô bằng giọng run run: "Sao? Cậu vừa nói cái gì cơ? Đến cả tôi là Hoàng tử Francis của W Academy mà cậu cũng không biết à? Rốt cuộc thì cậu là ai, từ đâu đến vậy? Trái Đất có biết đến sự tồn tại của một người như cậu không?"
"Đau quá, đừng có mà lắc vai tôi như vậy! Tôi thấy cậu mới là kẻ vừa rớt từ Sao Hoả xuống đấy! Tôi không biết cậu là ai thì có ảnh hưởng gì đến hoà bình của nhân loại không hả?!" Lise đáp trả lại, và cố giằng tay Francis ra khỏi người mình.
"Lise, em bị làm sao thế?" Và đoạn hồi tưởng kết thúc khi Ngài Francis Bonnefoy của thời hiện tại, vừa mới đi vào trong biệt thự để lấy cho vợ mình li nước mát và khi ra ngoài thì thấy cô Lise đang dở chứng ngồi cười một mình, cất tiếng. "Bộ có cái gì vui lắm vừa diễn ra hả?"
"Không, em chỉ đang tự tiêu khiển bằng cách nhớ lại chuyện quá khứ thôi mà," Lise nói. "Thời mà chúng mình còn học ở W Academy ấy, quả là đáng yêu thật."
Francis liền nhanh nhảu, "À, có phải em đang nhớ đến cái giai thoại mà người ta đã lên quyết định tạc tượng khoả thân của anh và đặt giữa Quảng Trường Thế Giới của Học viện W, và xung quanh bức tượng đó có một dàn đồng ca cùng hát "Thế giới ghi tên anh" vào ngày lễ khánh thành không?"
Nhân tiện khi nhắc đến cái quá khứ chói sáng của mình, Francis liền ngúng nguẩy lấp lánh các vì sao, giơ tay phải lên làm dấu chính nghĩa và có lẽ là sẽ tiếp tục ba hoa về cái thành tích của mình nếu ngay sau đó vợ của ông, Lise d'Orleans, không cau mày lại và phũ phàng nói:
"Không, thực sự thì cái phần đó đáng buồn nôn hơn là đáng cười, anh yêu ạ. Em còn nhớ là ngay sau cái ngày anh quyết định làm lễ vén màn bức tượng đó, mọi người đã quyết định đỗ xe ở cửa sau chứ chẳng còn ai dám xông vào trường bằng cửa trước nữa."
"Có em đây thây," Francis vẫn không biết xấu hổ. Và quả đúng là chỉ có mỗi cô Lise, lúc đó vì không biết tí gì, nên đã bước vào trong Quảng Trường mà ngước cổ nhìn lên, á khẩu vì bị cái vẻ hào hoa lấp lánh đang đứng trơ trụi thành một khối đá cẩm thạch có một không hai đó đập vào mắt.
"Sao hồi ấy người ta lại có thể bầu cho anh cái chức Hội trưởng Hội Học sinh được cơ chứ?" Lise hỏi. "Thôi quên chuyện đó đi. Cảm ơn anh vì li nước. Mọi chuyện trong đó vẫn ổn thoả cả chứ?"
"Louise đang điều hành mọi việc rất suôn sẻ. Xem ra con bé đã trưởng thành, đủ tuổi để sắp xếp chuyện nhà cửa đâu ra đó được rồi," Francis hài lòng. Đoạn ông ghé xuống tai vợ, nói, "Em xem, đến ngay cả người lớn như chúng ta mà cũng bị nó cho ra rìa, không được phép tham dự buổi họp mặt những người thừa kế tương lai là đủ biết con bé quyết đoán thế này rồi đấy."
"Chà chà, em thì sao cũng được — cứ phải ở trong bốn bức tường với hàng đống người như thế mãi thì cũng thấy ngột ngạt lắm. Dù sao thì buổi tiếp tân đó cũng là được mở ra là để dành riêng cho bọn trẻ mà. Em cũng nghĩ người lớn chúng ta không nên đến làm gì để ra vẻ kìm kẹp chúng nó. Thanh niên thì cứ nên để cho tụi nó thoả sức vui chơi và gặp gỡ nhau chứ, phải không hả," Lise đáp. "Chúng ta ra đây hít thở không khí trong lành cũng rất tuyệt mà."
"Ừ, giữa một buổi vũ hội ồn ào cũng nên có một phút yên tĩnh chứ," Francis đồng tình. "Em có muốn sang đằng kia không Lise? Anh vừa tình cờ gặp được Monsieur Dudley ở bên đó, chúng ta có thể sang nói chuyện với cậu ta một chút."
"Monsieur Dudley?" Lise hỏi. "Ý anh nói đến Bá tước D. của Anh Quốc sao? Cậu ta cũng có mặt ở đây ư?"
"Đúng vậy. Và Bá tước cũng dắt theo vị hôn thê của mình đến dự tiệc nữa. Có thể em sẽ thích nói chuyện với cô ấy đấy," Francis nói. "Họ đang đứng ở ngoài vọng lâu. Vừa nãy khi thấy anh đi ngang qua, cậu Dudley có mời sang đó để ngắm cảnh. Em cũng đi chứ?"
"Ừm, nghe cũng được đấy," Lise đồng ý và đứng dậy rời khỏi ghế. "Ở vọng lâu có thể nhìn ngắm được nhiều cảnh đẹp lắm. Nhưng... phải rồi Francis, em nghe nói là năm ngoái Bá tước D. đã kết hôn rồi mà. Thế hoá ra cậu ta chưa cưới vợ à?"
"Ồ chưa, cậu ta chưa kết hôn đâu," Francis nói. "Em không nhớ là năm ngoái chúng ta đã nhận được thiệp mời, rồi sau đó thì vì lí do gì đó mà họ đã hoãn lễ cưới này rồi sao? Cả hai nhà cứ lùm xùm với nhau một hồi, cuối cùng vẫn phải để cho hai đứa cưới nhau. Khách khứa đã chuẩn bị quà cáp hết cả rồi mà đến phút cuối vẫn kêu hoãn cưới — mà đó lại là do các bác các cậu ở bên nhà dâu không ưng chú rể đấy nhé. Rõ khổ."
"Ha ha, chắc nhà đó chỉ có mỗi một cô con gái quý hoá nên họ mới đâm khó tính vậy thôi. Em cũng muốn gặp cô con dâu tương lai của gia đình Bá tước lắm," Lise nói. "Chắc cô ấy phải đáng yêu lắm nhỉ?"
Đội tìm kiếm Peter Kirkland, hay còn được gọi là "Đội lùng bắt Peter Kirkland", càng lúc càng thể hiện sự ăn hại của mình khiến cho Arthur không thể nào không muốn cầm cái máy cắt cỏ xén mấy bụi cây trong Vườn De Rosellois đi để lôi ra cho bằng được cái thằng em tội nợ mà đáng lẽ ra anh phải đem nhốt ở nhà, "Tại sao lại như thế được? Rốt cuộc là nó đang trốn ở đâu chứ?" Arthur sốt ruột nhìn quanh. Anh đã đi dọc khắp các hàng rào cây xanh và chạy qua giàn dây leo Thung lũng Hoa Tường vi để tìm Peter, nhưng một chút tăm hơi của thằng bé cũng không có. Cuộc tìm kiếm đã khiến cho anh như bị dẫn vào một mê cung của các loài hoa vậy: đi lòng vòng mãi, quẩn quanh mãi nhưng vẫn cứ quay lại đúng chỗ cũ mà trắng tay vẫn hoàn tay trắng. Tin tức từ bọn vệ sĩ thì cũng chưa thấy gì khả quan. Thử hỏi sao Arthur lại không tức quá mà tiện chân đá vào cái bụi rậm bên cạnh anh một phát cho được! "Peter, cái thằng ranh con chết tiệt này; rồi lúc về mày chết với tao!" Arthur rủa thầm trong bụng, tay bóp nát một đoá hồng nhung cạnh đó và mặc cho những chiếc gai ẩn trong bụi cây có cào xước lòng bàn tay của mình, anh vẫn nghiến răng và thở hắt một cái, thái độ bất cần nhưng vẫn chưa hả được cơn giận trong lòng — mà không biết rằng, có người lúc này ở trong biệt thự đang ngầm theo dõi anh.
Đó là một người tóc đỏ, gương mặt thanh tú và lịch lãm; nhưng có cái miệng lộ vẻ rắn rỏi và cương quyết đến mức mà khi có lẽ khi có chuyện gì vui thì sẽ ngay lập tức bật ra những tiếng cười nghe rất nhã nhặn, thậm chí là đáng yêu, nhưng thực chất thì lại nghiêm nghị và dễ khiến người ta có cảm giác đó là một con người tuy rộng lượng nhưng khó có thể bị lợi dụng hay qua mặt được. Cặp lông mày rậm làm tăng thêm nét quyến rũ cho đôi mắt màu xanh lục lúc nào cũng có vẻ bình thản — một vẻ bình thản kiêu hãnh của những nhà quý tộc thực sự, chẳng cần khoa trương một cách sáo rỗng quyền lực hay địa vị của mình như những tay trùm tư bản lõi đời hay những kẻ giàu sụ lên nhờ ngành công nghiệp xi-nê, mà chỉ cần đứng đó, mỉm cười chìm đắm trong những suy nghĩ riêng tư nhưng có thể thay đổi được cả thế giới xung quanh.
Và anh kín đáo ngắm nhìn Arthur Kirkland qua một cặp ống nhòm nhỏ. Nhoẻn miệng cười. Như thể cảnh tượng anh đang thấy là một cái gì đó thú vị lắm.
"Hey, Scott," Mikkel Johansen, con trai của nhà tỉ phú người Đan Mạch Edvard Johansen, lên tiếng. "Anh còn đứng đó làm gì vậy?"
Và rồi nhà quý tộc tóc đỏ ấy liền quay mặt lại, mỉm cười.
"Có chuyện gì vậy?" Scott hỏi.
"Còn hỏi nữa à? Anh quả thật làm cho bọn này bất ngờ quá đấy. Đã tự dưng xuất hiện trong buổi tiệc này mà chẳng thông báo gì trước — tôi thậm chí còn ngỡ là anh đang phiêu du ở Canada hay ở một nước châu Á nào đó nữa cơ. Mà này, vụ này là thế nào đấy hử?" Mikkel kết thúc lời nói của mình bằng một câu hỏi, rồi chỉ tay về phía một thằng bé loắt choắt tóc vàng đang khóc nhè trên vai của Berwald Oxenstierna, đứa em họ người Thuỵ Điển của Mikkel. Berwald đang bế thằng bé lên và dụi dụi tay lên lưng nó để dỗ dành cho nó hết khóc; còn Tino Vainamoinen, người đứng bên cạnh Berwald lúc đó cũng đang nở nụ cười hiền lành và tỏ ra rất âu yếm thằng bé lạ mặt ấy.
Mikkel không hề biết rằng, thằng bé tóc vàng đó chính là Peter Kirkland, đứa em họ tội nợ mà nãy giờ Arthur đang căng mắt ra tìm kiếm.
"Nó là ai vậy?" Mikkel hỏi Scott. "Bỗng nhiên anh kiếm đâu ra một thằng oắt con rồi bảo tụi này phải chăm sóc nó là thế nào? Giải thích chuyện này đi chứ! Ê, Scott, có tháo cái cặp ống nhòm đó ra không thì bảo?"
"Hu hu hu," Peter vẫn cứ sụt sịt, mặc cho Berwald và Tino có dỗ dành đến đâu đi chăng nữa.
"Ngoan nào bé. Có chuyện gì làm cho em sợ hả? Coi nào, em đã an toàn rồi mà. Chúng ta không làm hại em đâu," Tino dịu dàng nói.
"Hay là nó sợ Scott nhỉ, hay là không thích Mikkel?" Berwald nghi ngờ. Nhưng Tino chỉ im lặng, nhìn Berwald với vẻ hơi ái ngại không dám nói: bởi vì nếu xét về bề ngoài, Berwald đã trông đáng sợ hơn Scott và Mikkel rất nhiều rồi, vậy mà đứa bé tóc vàng này cũng còn không sợ, ôm lấy vai cậu ta và khóc bù lu bù loa hết cả lên như đang úp mặt vào một cái gối — vậy thì hà cớ gì nó phải sợ Scott và Mikkel cơ chứ.
"Mikkel, đừng hung hăng thế," bây giờ thì đến lượt Lukas Bondevik, cậu em họ người Na Uy và cũng là bạn thân nhất của Mikkel, đứng bên cạnh nói xen vào. "Anh không nhìn thấy là anh Scott đang bận theo dõi cậu em trai quý hoá của anh ta sao?"
"Hả? Arthur Kirkland á?" Mikkel cau mày, không nhận ra là lời nói của anh vừa rồi đã khiến cho thằng bé Peter ở phía đằng sau giật thót. "Anh em muốn đoàn tụ với nhau thì cứ thẳng thắn mà gặp gỡ trao đổi, không tại nhà thì ở đây cũng được. Vậy mà cứ phải theo dõi với thám thính bí mật kiểu mafia xử nhau như thế làm gì?" Mikkel cứ thế mà nói huỵch toẹt ra, không thèm câu nệ ai cả.
Nhưng Scott thì lại bật cười trước cái điệu bộ xấc xược và nóng nảy của Mikkel, "Ha ha, cậu nghĩ như vậy thật à?"
Lukas cũng cười khẩy, đá mắt sang chỗ anh họ của mình, "Chà, Mikkel; nếu ai trên đời mà cũng may mắn có được cái tính bộc trực thẳng thắn, tình cảm phân minh rạch ròi như anh thì có phải là đã đỡ đi được nhiều thứ rồi không? Đằng này, ở đây lại toàn những kẻ chỉ giỏi chơi khăm nhau..."
"Đúng, đúng rồi đấy. Số tôi là chúa ghét ba cái loại cứ thích chơi khăm người khác," Mikkel nhảy vào tán đồng, không hề nhận ra là mình đang cắt ngang lời Lukas và cũng không hề nhận ra là cậu ta đang đá đểu mình.
"Ấy, Lukas, cậu nói như thế là không đúng rồi," Scott sửa lại chiếc ống nhòm một chút, trước khi quay mặt lại và nói chuyện trực diện với mấy anh em họ của Mikkel. "Thú thật là tôi cũng muốn gặp riêng Arthur lắm chứ. Nhưng mẹ lại không cho phép — và ngay cả khi không hỏi, tôi cũng biết là bà ấy sẽ chẳng bao giờ cho phép tôi gặp nó đâu. Thế nên là bây giờ chỉ còn cách là lén lút gặp nhau thôi."
"Lén lút gặp nhau" à? Peter Kirkland, lúc đó đang ngồi giữa Berwald Oxenstierna và Tino Vainamoinen, nghe đến chỗ đó mà cảm thấy hơi có chút nghi ngờ. Có một điểm khá rõ ràng trong câu chuyện mà nãy giờ cậu được nghe, đó là cái người tóc đó tên "Scott" này, hay "Allistor Kirkland" như trước đó anh ta đã giới thiệu với cậu, đang lên kế hoạch gì đó để được gặp gỡ riêng với Arthur. Nhưng rốt cuộc thì anh ta là ai? Đang toan tính điều gì khi đưa cậu tới đây và gửi cho mấy người này? Peter ngước mắt lên nhìn Berwald, rồi ngoảnh sang nhìn Tino với những ý nghĩ đầy ngờ vực trong đầu — nhưng đôi mắt mở to của cậu lúc đó lại tỏ ra ngây thơ, ngơ ngác đến mức chúng đã gần như che khuất đi những suy nghĩ phức tạp mà một đứa trẻ thì thường không giỏi giấu diếm và hay để lộ rõ ra ngoài, chỉ để lại trên gương mặt bé bỏng một nét sợ hãi thuần tuý khiến Berwald và Tino không khỏi không cảm thấy bối rối; nhưng rồi hai cậu cũng động lòng thương cảm, như có chút thấu hiểu cảm giác bây giờ của Peter và tỏ ra hết sức ân cần để an ủi cậu bé.
Hai người đặt cậu bé lên ghế nệm và ngồi bên cạnh cậu. Tino lấy ra trong túi áo một viên kẹo sôcôla, đưa cho Peter và nói, "Đây nè, anh biết là em đang sợ tụi anh, đúng không? Nhưng yên tâm đi em, tụi anh không phải là người xấu đâu. Em ăn kẹo đi, rồi nín khóc nha."
"Đúng vậy đấy," Đến cả Berwald Oxenstierna, một người nổi tiếng là lúc nào cũng có vẻ mặt nghiêm khắc và hầm hầm ám khí trông rất đáng sợ, cũng mỉm cười và dịu giọng lại khi nói với Peter! "Em cứ ăn kẹo đi, rồi thích chơi trò gì, anh mang đến cho. Chỗ này nhiều game thú vị lắm, em muốn chơi bao nhiêu cũng được."
"Ôi mẹ ơi, thằng kia... nó cười kìa. Trong khi mình là anh họ của nó, đã cố gắng suốt cả bao nhiêu năm vẫn không làm nó cười được — vậy mà cái thằng bé lạ mặt kia lại làm được..." Mikkel đứng gần đó bèn tối sầm mặt lại và suýt muốn ngã ngửa ra khi nhìn thấy nụ cười của Berwald dành cho Peter. Trong khi đó Lukas, bình tĩnh hơn, thì chỉ gật gù đá đểu, "Ừm, không thể phủ nhận được là trẻ con thì thường có sức lan toả mang tính đáng yêu và tích cực hơn là một số thằng to đầu mà dại," với vế sau của câu nói, tất nhiên, là để phiếm chỉ Mikkel và cái độ ngốc khó đỡ của cậu ta.
Nhưng Peter, ngay cả khi đã hơi nín khóc vì nhận được tình cảm săn sóc lẫn toàn bộ sự chú ý từ Berwald và Tino, vẫn cứ nghĩ tới Arthur Kirkland và rợn người khi mường tượng ra cảnh sẽ bị ăn mắng, thậm chí là bị đánh đòn, một khi mà bị anh ta tóm được và lôi về nhà. Cuối cùng, cậu bé bèn ngoảnh sang chỗ Scott, người mà lúc đó vẫn còn đang mải mê với cái ống nhòm của mình, rồi quyết định nhảy xuống ghế nệm để tiến tới chỗ anh ta:
"Anh, anh ơi!" Peter giật giật lưng áo của Scott.
"Gì thế hả nhóc?" Scott nhìn xuống hỏi.
"Anh Arthur... ảnh đang tìm em, đúng không?" Peter run run hỏi, vẫn còn ngân ngấn nước mắt. "Lúc nãy ở trong vườn hoa em đã nghe cả rồi. Anh ấy không biết em đang ở đây, và chắc chắn sẽ mang em về, phạt em ở trong nhà và mãi mãi không được đi dự tiệc, không được ăn bánh kem nữa! Có đúng vậy không anh? Em sợ lắm!"
Nhưng Scott chỉ phì cười trước sự ngây thơ của Peter.
"Ha ha ha! Em nghĩ thế thật hả?" Anh ta hỏi.
"Đừng nói thế chứ, Scott," Tino tỏ vẻ bất bình. "Nếu anh đã đưa thằng bé tới đây mà không cho Arthur biết, thì chính anh mới là người phải chịu trách nhiệm cho việc này mới đúng. Lại đây nào, em bé, em đừng sợ; tụi anh sẽ bảo vệ em mà."
"Ôi trời, xem kìa Tino. Cậu nghĩ tôi là loại người nào kia chứ?" Scott nói. "Có thể trong mắt các cậu thì tôi cũng cùng một giuộc với Mikkel, cũng là những tay không-giỏi-làm-anh-hai đánh bạn với nhau cả thôi; nhưng chí ít thì tôi cũng không phải là kẻ làm xong rồi phủi tay đi luôn như vậy. Nè, Peter. Anh đã nói là bỏ rơi em hồi nào đâu? Chẳng phải là anh đã đưa em đến chỗ an toàn rồi sao? Anh đảm bảo với em là dù Arthur có tài thánh đến mấy thì cũng không thể tìm ra em được đâu."
"Uầy, tuyên bố gì tự tin thế ông tướng?" Mikkel giở giọng đùa cợt, hất hàm về phía Peter. "Không sợ tụi này giao nó cho Arthur à?"
"Này này, anh đừng làm cho nó sợ chứ," Tino nhắc nhở.
"Ngay cả khi cậu có bán đứng tôi, Mikkel ạ, thì tôi cũng đã tính toán mọi chuyện đâu vào đấy hết rồi," Scott nhún vai, nhếch mép cười. "Hơn nữa, nếu như cậu không ưa thằng bé này, thì tôi cũng sẽ không làm phiền cậu đâu. Tôi sẽ đưa nó cho Berwald và Tino trông nom nó."
Và anh quay sang phía Peter, "Sao hả Peter? Em có thích ở chung với anh Berwald và anh Tino không hả? Anh sẽ nhờ họ trông em — sẽ không để cho Arthur tóm được em đâu mà sợ."
"Ơ... có thật không ạ?" Peter mở to mắt hỏi.
"Ê, Scott, tự mình quyết định thế đó hả?" Mikkel lại nhảy vào. "Tôi đã nói là tôi không ưa thằng bé hồi nào đâu? Thế là không công bằng tí nào. Chỉ để cho Berwald và Tino giữ nó thôi sao?"
"Thôi im đi Mikkel," Lukas ngắt lời. "Anh Scott nói đúng rồi đấy. Đứa bé dễ thương như thế, để cho một kẻ bị thịt như anh nuôi nấng thì nó sẽ thành ra cái giống gì?"
"Nhưng... nhưng như thế vẫn không công bằng chút nào!" Mikkel cãi lại.
Tuy vậy, Scott vẫn làm bộ không quan tâm đến thái độ dùng dằng như trẻ con đòi quà của Mikkel. Anh tiếp tục trò chuyện với Berwald và Tino về việc chăm sóc bé Peter:
"Sao? Hai người có thích thằng bé không để tôi còn để nó lại nào? Còn Peter, em có thích ở chung nhà với hai anh này không?"
"Scott à," Berwald nói. "Quả thực là chúng tôi rất thích có Peter ở đây. Nhưng anh làm vậy liệu có ổn thoả không? Arthur rất có thể sẽ..."
"Hơ? Không! Em không muốn về với anh Arthur đâu," bỗng nhiên Peter lên tiếng, cắt ngang lời của Berwald. "Nếu em mà về, chắc chắn em sẽ bị phạt, bị anh ấy mắng... Em không về đâu. Hai anh đồng ý cho em ở lại với hai anh đi! Làm ơn đi mà! Đừng đuổi em đi nhé!"
"Em à, tụi anh rất thích giữ em ở lại," Tino nói, không khỏi cảm thấy bối rối trước vẻ khẩn nài của Peter. "Em đừng lo lắng quá. Tụi anh nhất định sẽ sắp xếp chuyện này ổn thoả mà."
"Ứ ừ! Nhưng hai anh phải hứa là sẽ giữ em lại đã!" Peter vùng vằng.
Berwald và Tino nhìn nhau, rồi nhìn Peter một lúc trước khi hướng mắt sang chỗ Scott.
Nhưng Scott chỉ nhún vai, mỉm cười như thể chính anh cũng nghĩ là chẳng còn cách nào khác: có lẽ Berwald và Tino phải đưa thằng bé Peter về nhà họ sau buổi tối hôm nay thôi.
"Scott, anh thật là..." Tino nhăn mặt nói. "Toàn đặt chúng tôi vào những tình huống khó xử thôi."
"Tuỳ hai người thôi," Scott thản nhiên nói.
Quay trở về với cuộc hành trình tìm kiếm Peter (mà nói đúng hơn phải là "Cuộc hành trình khốn khổ để lùng sục cho ra thằng nhóc mắc dịch Peter được huy động bởi Arthur Kirkland") vẫn chưa có kết quả gì, ngoài chuyện Arthur đang phát điên phát cuồng lên vì bị một cái gai hoa hồng đâm trúng lưng ra.
"Lũ chết tiệt! Sắp tới giờ chầu rồi mà chúng bay vẫn còn bắt tao ngồi đây để tìm một thằng nhãi!" Arthur tức giận, lăm lăm giơ tay lên trời như thể đang doạ nạt một kẻ vô hình đang lơ lửng trên cao. Đó là thói quen của anh — một thói quen chửi đời rất dễ khiến cho người khác hiểu lầm và tưởng là anh đang bị điên hay sao mà đi nói chuyện với không khí như vậy. Nhưng anh bất cần. Và trong lúc sôi máu và quay vòng vòng thành một đường tròn, vừa xoay vừa nhảy lò cò vì bị một cái gai đâm phải, anh lại nổi xung lên mà móc điện thoại ra... gọi điện cho mấy tay cận vệ ở nhà.
"Sao rồi? Lão Montgomery đã tỉnh chưa?" Arthur hỏi. "Các người đã phát hiện ra kẻ nào đã đánh ngất lão ấy và mang thằng Peter đi chưa hả?"
"Dạ thưa, cậu chủ cứ yên tâm — ông Montgomery đã tỉnh dậy rồi ạ," tên vệ sĩ đáp. "Chúng tôi vẫn đang tìm kiếm dấu vết của kẻ đã mang cậu Peter đi. Có vẻ hắn ta đã đột nhập vào biệt thự bằng cửa sổ, thưa cậu chủ."
"Đột nhập vào bằng cửa sổ ư?" Arthur dần mất bình tĩnh. "Thế thì nó là ai? Siêu đạo chích hay là cái thằng quái nào mà lại đi phá nát cả một đống hệ thống bảo vệ biệt thự nghiêm ngặt như thế, vậy mà các người vẫn không hay biết tí nào. Đã thế nó lại còn tốt bụng đến mức dẫn cái thằng Peter đến đây dự tiệc nữa? Chuyện quái gì đang xảy ra thế này?!"
"Xin cậu Arthur bình tĩnh. Chúng tôi vẫn đang cố hết sức để kiểm soát tình hình..."
"Bình tĩnh cái đầu các người ấy!" Arthur tuyệt vọng hét lên qua điện thoại. "Lỡ cái kẻ đột nhập đó cũng có mặt tại bữa tiệc này thì sao? Có thể là nãy giờ hắn đã đưa Peter đi đến tận phương trời nào mà ta không biết rồi! Trời ơi là trời, thế thì còn đi kiếm thằng bé làm gì nữa kia chứ!"
Đúng vậy. Sao mà nãy giờ Arthur lại không tính đến trường hợp này, lại cứ đâm đầu vào tìm Peter mà chẳng thèm suy nghĩ gì cả. Rốt cuộc Arthur đành kết thúc cuộc trò chuyện bằng câu, "Thôi đủ rồi, các người cứ điều tra đi — hỏi lão Montgomery cho rõ vào. Được thế nào hay thế ấy!" Và tắt điện thoại.
Ngay lúc đó, một tiếng chuông điện thoại khác bỗng vang lên.
"Gì nữa đây?"
Arthur, vì đang mải ôm đầu hối hận về quyết định sai lầm của mình, đương nhiên là cảm thấy cực kì khó chịu khi bị tiếng chuông đó làm phiền. Nhưng ở bên đầu dây lại là Amelia, người cũng đang tìm kiếm thằng nhóc Peter đó hộ anh.
"Hey hey, Arthur Sâu Róm đó hả? Sao giọng anh nghe gắt gỏng thế?" Amelia hỏi.
"Thì sao?" Arthur đáp trả. "Tôi đang điên đầu đây. Đừng có ở đó mà giỡn nữa. Tìm được chút manh mối nào về Peter chưa hả?"
"Hì hì, thì thấy được chút dấu vết tôi mới gọi cho anh chứ," Amelia nói. "Tôi không tìm được thằng nhóc Peter đó cho anh. Nhưng mà có một đứa bé khác — bảo là em họ của anh — nói là đã gặp thằng nhóc đó đấy. Anh có muốn nói chuyện với nó không hả, Sherlock Holmes?"
"Alô, anh Arthur ơi, có đúng là anh đang ở bên đó không? Là em — Ashley đây!" Và từ bên kia điện thoại bỗng vang lên một giọng nói trong trẻo và hồn nhiên.
"Hả, Ashley? Là em sao?" Arthur ngạc nhiên. "Sao em lại chơi ở ngoài vườn vậy? Anh đã bảo đám quản gia trông nom em cho cẩn thận rồi kia mà, sao lại còn để cho em chạy ra ngoài đây? Mấy cái tên ăn hại này... còn em, Ashley, em đi vào trong biệt thự đi."
"Ơ... nhưng tụi em đang chơi trốn tìm rất vui mà?" Ashley nói.
"Trời ơi! Lại còn chơi trốn với chẳng tìm nữa chứ!" Arthur thốt lên. "Anh đã bảo đi vào trong thì đi vào trong, Ashley. À mà khoan, suýt thì quên khuấy mất. Ashley, em nói là em biết gì về thằng nhóc Peter đó hả?"
"Ơ, Peter... nào ạ?" Ashley ngơ ngác. "Peter nào hở chị Amelia?"
"Peter chính là cái thằng nhóc tự xưng là Allistor Kirkland đấy," Amelia nhắc. "Em biết gì về nó, nói cho anh Arthur biết đi."
"A! Là cái cậu bé khóc nhè đó hả? Ôi trời, hoá ra cậu ta không phải là người nhà Kirkland sao? Em biết là cậu ta nói dối mà! Anh Arthur, cậu ấy tự dưng đưa ra một tấm vé giả cho anh Giovanni Vargas, rồi tự mạo nhận mình là con cháu của gia tộc Kirkland đấy. Em đã nghi ngờ từ sớm rồi mà," Ashley nói.
"Phải rồi, tấm vé đó," Arthur chợt nhớ ra. "Kể tiếp đi, Ashley; Giovanni không nhận ra đó là đồ giả à?"
"Không," Ashley nói. "Anh Giovanni còn xem xét một hồi, bảo đó là tấm vé thật nữa. Rồi sau đó, anh Giovanni bảo sẽ chơi trốn tìm cùng chúng em, thế nên em với cái cậu Alllis... à không, Peter đó mới chạy ra ngoài vườn để tìm chỗ núp đấy chứ."
Khoan! Một cú khựng lại khiến cho Arthur nhớ ra tất cả. Anh bắt đầu lật lại vụ án, và mọi suy nghĩ cũng bắt đầu từ đó mà phi nhanh như gió để đi đến kết luận cuối cùng: đúng vậy, tên lạ mặt đã đưa Peter đi — tại sao hắn lại có tấm thiệp mời của Allistor chứ?
Và sẽ như thế nào... nếu đó không phải là một tấm thiệp giả...
"Ha ha, bắt đầu thú vị rồi đây!" Scott cười lớn, mắt vẫn dán vào cái ống nhòm.
"Arthur có vẻ đã phát hiện ra anh rồi đấy, Scott ạ," Lukas nhếch mép cười. "Thế nào đây? Có định thoát thân không để tụi này còn mở đường máu cho nào?"
"Có, có chứ — tất nhiên là phải trốn rồi, sợ quá đi," Scott đùa, rồi nhìn sang Berwald và Tino. "Các cậu ở đây chăm sóc cho Peter cẩn thận nhé, tôi phải trốn đây, kẻo bị ăn đòn mê tơi mất. Hà hà!"
"Anh ta chơi ác ác thật đấy," Mikkel lẩm bẩm.
"Thật không thể tin nổi. Thực sự anh ta có cảm thấy một chút trách nhiệm nào đối với bé Peter không vậy?" Tino hỏi.
"Tớ đoán là không," Berwald nói.
Lạy Chúa! Có mỗi một chuyện đơn giản như thế thôi mà Arthur cũng không nghĩ ra được!
"Scott... phải rồi... sao mình không nghĩ ra chuyện đó kia chứ? Rất có thể anh ta cũng xuất hiện trong bữa tiệc này," Arthur vò đầu, không biết phải kêu lên thế nào — nhưng ngay trong lúc đó quả thực là anh rất muốn rít lên để cho bõ cái cơn bế tắc này. "Tức thật! Cái tên đó!"
Tức mình, Arthur những muốn ném thẳng cái điện thoại vào xuống đất. Nhưng giọng nói của Ashley từ bên đầu dây điện thoại lại tiếp tục vang lên:
"Arthur à, anh có sao không? Bộ em vừa nói gì làm anh giận hả?"
"Không... không có gì đâu," Arthur cố nén cơn giận lại. "Ashley, em đưa máy cho Amelia hộ anh cái. Anh cần nói chuyện với chị ấy."
"Tôi đây, Arthur," Amelia nhanh chóng nhận lấy máy điện thoại. "Có chuyện gì mà anh nói như sắp bị nhồi máu cơ tim thế?"
"Nhồi máu cơ tim à? Ừ, tôi đang bị nhồi đến mức muốn trào máu ra khỏi họng đấy!" Arthur gắt. "Cái tên Scott đó... tôi đã bị hắn chơi cho một vố rồi! Cô bảo bọn vệ sĩ tiếp tục tìm kiếm thằng Peter đi; rồi chuẩn bị về phòng nhiếp chính là vừa rồi đấy. Chứ ở đây hoài cũng chẳng được ích lợi gì đâu."
"Hả, Scott ở đây à? Anh đang nói cái gì mà lạ thế? Khoan! Ê này, đừng cúp máy chứ," Nhưng Amelia chưa kịp dứt lời thì đã nghe thấy tiếng tút... tút... ngắt điện thoại.
Xong rồi. Giờ thì Arthur phải biết làm gì đây? Gọi bọn vệ sĩ đến và truy cho ra Scott ư? — đúng là hạ sách. Có tên nào trong cái đám vệ sĩ này biết rõ mặt mũi của Scott đâu mà kêu chúng nó tìm. Hơn nữa, đã biết bao nhiêu năm anh ta không liên lạc với gia đình rồi, giờ lại đột ngột xuất hiện thì kể cũng lạ. Mà có chắc là chính anh ta là kẻ đã đưa Peter đi không? Lỡ đó lại là một tay bắt cóc bệnh hoạn nào đó thì sao? Trước mắt Arthur hiện giờ, để giải quyết vấn đề nan giải này thì chỉ còn cách là gọi điện cho mẹ anh, Phu nhân Brittany Kirkland, để hỏi rõ xem bà có biết chuyện của Scott hay không thôi.
Nhưng rồi rốt cuộc, Arthur đã không làm. Không được, anh tự nhủ như vậy. Sau tất cả mọi chuyện trong quá khứ, gọi điện cho mẹ để hỏi về anh Scott là điều mà Arthur hết sức không muốn làm. Vả chăng, nếu Scott có trở về, thì nhất định anh ta cũng không để cho mẹ biết được.
Chỉ còn một phương án cuối cùng.
"Louise! Phải rồi, Louise!" Arthur thầm reo lên trong đầu. "À, sao mình không nhớ ra sớm nhỉ? Chỉ cần hỏi cô ta là có phát tấm thiệp nào mời Scott không là được mà! Rất có thể cô ta sẽ biết chuyện gì đó!"
Và thế là anh bèn quyết định quay trở về gian nhiếp chính để tìm Louise. Mê cung Hoa Hồng De Rosellois, do vậy, cũng chẳng còn lý do gì để giữ anh ở lại nữa.
Ngoại trừ một điều duy nhất...
Từ nãy đến giờ, Arthur không biết là mình đã đi lòng vòng đến tận khu vọng lâu của khu vườn De Rosellois, nơi có cảnh tượng tuyệt đẹp với những dải hoa mọc xung quanh một bờ hồ trong mát, cầu vượt được xây ở phía trên trông như khung cảnh của một câu chuyện cổ tích. Ánh đêm chiếu xuống mặt hồ, rạng rỡ và như in bóng của Nữ thần Mặt Trăng Selene, lãng mạn và man mác buồn, chỉ có thể bị làm nhoè đi bởi những chú thiên nga duyên dáng đang bơi rẽ thành từng gợn sóng mềm mại. Khung cảnh tĩnh mịch nơi đây quả là một nơi lí tưởng để các cặp tình nhân bí mật hẹn hò: nó làm cho người ta có cảm giác giống như là đang lạc vào một phần của nơi thâm sơn cùng cốc nào đó mà chỉ có các tiên nữ trong truyền thuyết mới có thể tạo ra, để sống yên bình và tránh khỏi sự xấu xa và thế giới tội lỗi của loài người.
Arthur không phải là không nhận ra được vẻ đẹp của bức tranh tuyệt vời này đâu. Chỉ là anh đang bận. Bận tìm kiếm đứa em họ Peter Kirkland của anh, mải mê với cuộc hành trình của chính mình trong mê cung hoa hồng và không có thời gian ngừng lại để thưởng thức bất kì điều gì. Vị ngọt ngào của những đoá hồng đêm Valentine, vì không được lại gần và vỗ về vào những xúc cảm đã bị tổn thương của Arthur, đã mãi mãi dừng lại ở nơi nó vốn thuộc về và trở thành nỗi ám ảnh cho những kí ức của anh sau này. Nàng Erato ấy, tấm lịch của người Romania, những cô bé mặc áo kroje hát lên những lời giã biệt và những kí ức tự trùm kín mình bằng tấm áo choàng hắc ám ấy — rốt cuộc thì đâu mới là đoá hồng xinh đẹp mà anh nghĩ là mình đã trả quá giá? Nó không xứng đáng được như thế, nhưng khi được trao đến tay anh, anh đã tự lừa dối chính bản thân mình và đổ dồn hết tình thương cho nó, để rồi bây giờ khi nó rời khỏi anh, thì anh lại vẫn cứ nhung nhớ, vẫn cứ nhìn xa xăm để chờ đợi nó trở về?
Và rồi anh chỉ tay lên không trung, đếm từng thứ một, như một tên già gàn dở đếm những thứ quý giá của mình, "Không, không phải ngươi. Là người ngươi chăng? Không phải..." để tìm xem đâu mới là đoá hồng mà anh đã trả quá giá. Nàng Erato bỗng nhiên xuất hiện trước mặt, đằng sau ngón tay của anh, như thể để anh kiểm tra lại trong kí ức xem liệu có phải là vì chính nàng ấy mà cho đến tận bây giờ, anh mới giống như một kẻ khập khiễng trên con đường tuổi xuân của mình không.
"Hả...?" Và Erato của anh mở to mắt, gần như không thể tin nổi vào mắt mình khi nhìn thấy anh. "A... anh..."
Nàng sững sờ. Còn anh thì kinh ngạc, đến mức như không thể thở nổi.
"Era... Eliza?" Arthur mấp máy môi, kết thúc câu nói của người phụ nữ tóc đỏ xuất hiện trước mắt anh bằng những lời vô vọng cuối cùng.
Không, không phải em. Có thể sau này Arthur sẽ lắc đầu và nói như vậy. Nhưng đúng lúc ấy anh không biết phải nói gì hơn, chỉ ngỡ ngàng, nhìn nàng, và đó là những hành động còn mang tính ý thức cuối cùng của Arthur trước khi anh bị kí ức mặc áo choàng đen, từ đằng sau lưng xông tới và chồm lấy toàn bộ — nét mặt của anh, giọng nói của anh, mái tóc của anh... tất cả bây giờ đều đã là những thứ mang tính gợi nhớ với Eliza. Mới một năm trôi qua thôi, nhưng bây giờ anh đã trưởng thành rồi.
Và Francis Bonnefoy từ phía sau lưng Eliza, tay cầm ly rượu sâm panh bèn lên tiếng:
"Ô, ra là Arthur đó hả? Thế mà tôi cứ tưởng ai chứ," ông ta nói. "Sao thế? Sao lại ra đây mà không chuẩn bị đến chỗ phòng nhiếp chính đi?"
Nhưng Arthur vẫn không mở miệng nói được lời nào. Cho đến khi những người còn lại đang đứng trên vọng lâu của khu vườn — Phu nhân Lise Jeanne d'Orleans và Bá tước Dudley, cùng bước xuống.
Kí ức về những mối tình quá khứ lần lượt đổ ập xuống đầu Arthur. Lise, người phụ nữ mà anh đã đem lòng thầm mến hồi nhỏ, vẫn còn mặc một chiếc đầm trắng tựa như một vị thiên thần mà anh sẽ không thể nào với tới được. Tiếng nước chảy bên bờ hồ khẽ thầm thì khiến cho anh nhớ lại tiếng sóng biển của mười một năm trước. Arthur bước lùi lại, và hình ảnh của cô bé Louise bảy tuổi, nhỏ bé, tóc búi cao và đội một chiếc vương miện đồ chơi, bỗng hiện về và lặp lại đúng những lời của mười một năm trước, "Đừng có mà mơ tưởng lung tung nhé!" Đúng, đúng vậy. Đó là mẹ của cô ấy, là vợ của Ngài Francis Bonnefoy mà. Đối với Lise, anh mãi mãi chỉ là một đứa trẻ thôi.
Nhưng còn Eliza thì sao? Bây giờ gặp lại, cô ấy có còn nhìn anh như ngày xưa nữa không? Eliza lẩn tránh cặp mắt của anh. Còn khi ánh mắt của hai người vô tình chạm phải nhau, thì Eliza lại trở nên lúng túng. Cô bối rối quay mặt về phía người đàn ông đứng cạnh Ngài Francis Bonnefoy, và giả vờ như không hề quen biết gì với Arthur hết. Đôi mi của cô khẽ chơm chớp nhìn xuống — vậy là cũng đủ để cho Arthur hiểu được tất cả rồi.
Mối quan hệ của họ đã chấm dứt thật rồi.
Arthur vẫn tiếp tục dán mắt vào Eliza, vẻ thất vọng. Trong khi Eliza thì hơi mím môi, rồi cuối cùng, quay sang tiến về phía người đàn ông lạ mặt, "Có chuyện gì vậy em?" ông ta hỏi. Và Eliza đáp lại rằng, "Không, không có gì đâu ạ."
Còn Francis thì vẫn tươi cười, nói với Arthur, "Thôi, dù gì thì cậu cũng đã tới đây rồi. Tôi cũng nên giới thiệu qua cho cậu hai vị khách quý của buổi tiệc ngày hôm nay chứ hả? Đây là Monsieur Dudley, mà gia đình tôi vẫn hay quen thân gọi là Bá tước D. — tôi chắc là mẹ cậu, Madame Brittany cũng quen thân với gia đình của cậu ấy đấy."
"Ồ, Madame Brittany! Tất nhiên rồi, tôi đã gặp bà ấy trong một số bữa tiệc gia đình được tổ chức tại Anh," Vị Bá tước nhớ lại. "Chà, vậy ra đây là..."
Francis lịch sự nói, "Đây là cậu Arthur Kirkland, con trai của Madame Brittany, và cũng là người thừa kế của gia tộc Kirkland đấy."
"Chao, thật sao? Vậy đây là người thừa kế của gia tộc Kirkland, rất hân hạnh được làm quen với Ngài, thưa Ngài Arthur," Vị Bá tước thốt lên và niềm nở đưa ra cái bắt tay.
"Vâng. Tôi cũng rất vinh dự được gặp anh," Arthur nói nhanh và chấp nhận cái bắt tay của Ngài Dudley, dù mắt vẫn lén nhìn về phía Eliza. "Cùng là dân quý tộc với nhau cả thôi, anh không cần phải khách sáo quá làm gì. Ở đây người ta vẫn gọi tôi là Arthur, anh không cần phải xưng hô trịnh trọng như thế."
"Còn đây là..." Arthur hỏi, hơi đưa tay lên để chỉ về phía Eliza, giả bộ như anh chưa từng gặp cô ấy lần nào.
"À, đây là Tiểu thư Eliza Rose," Lise mỉm cười, giới thiệu. "Cô ấy là hôn thê của Ngài Dudley. Chúng tôi vừa nói chuyện với nhau về lễ cưới của cô ấy đấy."
"... Hôn thê ư?" Arthur chơm chớp mắt.
"Đúng vậy, vì vợ tôi cảm thấy bên trong vũ hội ngột ngạt quá, nên tôi mới dẫn cô ấy ra ngoài để thưởng thức phong cảnh, tiện thể đây trò chuyện cùng với Bá tước Dudley và Tiểu thư Eliza đấy," Francis nói.
"Hôn thê..." Arthur khẽ lặp lại lời của Phu nhân Lise. Anh nhìn nhanh sang Eliza một lần nữa, nhưng cô ngoảnh mặt đi. "Nếu như vậy... thì Tiểu thư Eliza chưa lấy chồng sao?"
Francis Bonnefoy hơi nhíu mày, "Ý cậu là sao?"
"Không, ý tôi là... hôn lễ giữa hai người chừng nào mới diễn ra?" Arthur nói, mắt nhìn thẳng vào Bá tước Dudley.
Không hiểu sao khi nhắc đến đoạn đó, thì cả Francis, Lise và Bá tước Dudley đều nở nụ cười ái ngại.
"Hoá ra là đến cả Công tử Arthur cũng biết," Monsieur Dudley ái ngại nói. "Chuyện đó quả thực đã làm chấn động giới quý tộc một thời gian ngắn..."
"Đúng thế."
Và đó chính là tiếng của Eliza. Cô chợt ngẩng đầu, lên tiếng cắt ngang lời của Bá tước Dudley.
"Chúng tôi đã định tổ chức hôn lễ vào năm ngoái; nhưng mà vì chuyện giữa hai bên gia đình mà lễ cưới đó đã bị hoãn lại — phải chờ đến hết năm nay mới có thể tổ chức. Nếu như chúng tôi đã gửi thiệp mời đến gia đình công tử mà đến tận phút chót lại thông báo hoãn lại, thì xin hãy thứ lỗi cho chúng tôi."
Eliza rốt cuộc cũng nhìn thẳng vào mắt của Arthur, và nói ra một điều như thể đó là một lời thú nhận dũng cảm — một sự thật đơn giản mà cả cô lẫn Arthur đều phải chấp nhận. Cái giọng đanh thép chứa trong đó là một vẻ sôi nổi lạ kì của cô, vẻ cứng đầu nổi loạn nay đã dịu bớt xuống và trở thành nét quyết đoán hiện rõ lên trên gương mặt của người phụ nữ trẻ kiêu hãnh. Arthur nhìn cô đăm đăm, rồi anh cúi mặt xuống, nhếch miệng cười vẻ khinh khỉnh, và tự nhủ trong lòng một cách cay đắng, "À! Đây rồi. Eliza vẫn cứ là Eliza."
"Kìa, Eliza; hình như em cảm thấy không ổn à?" Bá tước Dudley gặng hỏi, dường như đoán ra được điều gì đó nơi Eliza.
"Không, em không sao đâu," Eliza lắc đầu.
"Hay là cô ấy bị chóng mặt? Gió lạnh ở trên vọng lâu đôi lúc cũng khiến người ta cảm thấy khó chịu lắm," Lise bèn hỏi thăm.
"Nếu như cô ấy cảm thấy không khoẻ," Arthur lạnh lùng nói. "Thì anh nên đưa cô ấy vào trong biệt thự đi, Bá tước Dudley ạ."
Đúng vậy. Arthur ạ. Anh hãy cứ cười thầm trong bụng, giễu nhại sự ngốc nghếch của mình đi. Tình yêu mà anh dành cho tất cả những người đàn bà này — cuối cùng, tất cả đều là những đoá hồng xinh đẹp nhưng đã bị anh trả quá giá.
"Này, Arthur, cậu chạy đi đâu vậy?!" Francis kêu lên, nhưng Arthur không nghe. Anh bỏ đi không phải là vì trốn chạy, mà là để gạt bỏ toàn bộ quá khứ lại đằng sau. Anh cần gì phải khóc. Anh cần gì phải đau khổ. Tất cả rồi sẽ qua thôi. Không phải là một chú thỏ màu xanh bạc hà sẽ làm dịu đi nỗi đau, mà là một câu nói lạnh lùng như gió đêm sẽ thổi bay tất cả thành dĩ vãng. Kí ức của anh, gia đình của anh, những người phụ nữ của anh thời thanh thiếu niên, tất cả rồi sẽ rời bỏ anh. Lịch của người Romania đâu rồi? Anh sẽ đánh dấu mọi sự mất mát này, bắt đầu từ cái chết của những nữ minh tinh màn bạc, về mùa xuân và những mối tình thoáng qua của anh.
"Thật nực cười, nực cười!" Arthur vẫn sẽ tiếp tục chạy đi, vừa chạy vừa lẩm bẩm.
Cho đến khi anh gặp hình bóng của một người con gái quen thuộc và tất cả sự điên cuồng liền chững lại, "Amelia?"
Sao cô ấy lại ở đây? Và sao cô ấy lại khóc?
"Amelia! Khoan đã!" Arthur hét gọi và đuổi theo cô gái tóc vàng. Nhưng cô ấy chỉ kịp nhìn anh, bằng đôi mắt to màu xanh biếc ngấn nước mắt, và chạy đi trong nỗi tuyệt vọng.
~ Chú thích ~
Erato: Một trong chín nàng thơ (Nine Muses) của Thần Thoại Hy Lạp.
Scott: Đại Ca Scotland đã trở về và lợi hại hơn nữa.
