10. Đêm sum họp gia đình và phía sau màn kịch ngày 14 tháng 2. Câu chuyện tình trong bóng tối và những cuộc tìm kiếm chạy vòng quanh (phần 6)

Thế nhưng đêm Thánh Valentine đó đã thực sự trở thành cơn ác mộng đối với Honda Kiku. Ngọc Hoa mất tích, cùng với cái tay Alfred chết tiệt kia và bây giờ thì anh đang phải cùng với các em của mình chạy dọc khắp các hành lang để tìm kiếm tung tích của hai đứa đó trong toà lâu đài rộng lớn mênh mông này. Ấy, nhưng phận làm anh cả thì nó khổ là thế. Như đã nói từ trước, Kiku, vốn đã thấm thía cái nỗi cơ cực phải làm con trai trưởng của một gia đình có mối quan hệ nhập nhằng xuyên quốc gia, mà đứng đầu cái gia đình ấy lại là một ông bố trẻ con vô tư lự suốt từ năm này đến năm khác vẫn cứ chất chồng áp lực lên vai anh — kể từ khi anh vừa mới tròn ba tuổi thì lão ta đã khăn gói quả mướp, mang theo cả cái con Shinatty-chan đáng nguyền rủa đó đi để bỏ nhà, bỏ vợ bỏ con để đến Việt Nam sống cùng với bồ nhí (chính là mẹ của Ngọc Hoa lúc đó đang mang thai và cũng chỉ làm vợ của Wang Yao được đúng vài năm), và chỉ về nhà mỗi khi có chuyện muốn nhờ vả anh hay là chán đời quá nên muốn được vác xác về nhà cũ để ăn thêm vài cái cán chổi lông gà; lại còn phải vác thêm cả công việc chăm sóc lũ em trai em gái lúc nào nếu không phải tự chuốc hoạ vào thân thì cũng là rắc rối nó tự mò tới nữa chứ. Thử hỏi sao anh không cảm thấy mình càng ngày càng già sớm sao được.

Tuy nhiên, với riêng trường hợp của Ngọc Hoa thì Kiku còn có thể thông cảm được. Tội nghiệp đứa em gái của anh, rõ ràng đâu phải lỗi tại con bé, mà là tại cái thằng Alfred kia mà mọi chuyện mới thành ra tồi tệ như thế này. Kiku vừa sốt ruột, vừa tự trách mình quá đáng nên cũng đang có nhu cầu muốn đổ lỗi cho một đối tượng thứ ba. Và khi mọi chuyện còn đang ở trong tình thế dở dở ương ương, chưa thể hiểu được ngọn ngành lẫn diễn biến của tất cả thực sự là như thế nào Kiku, cho dù không nói ra và chỉ giữ kín trong lòng, cũng sẽ quy tội cho kẻ nào đáng ngờ và khiến anh cảm thấy ghét bỏ nhất ngay lúc này: đó chính là Alfred.

"Grừ... rồi sẽ xem!" Kiku vừa nghiến răng vừa giữ mối thù với Alfred ở trong lòng. "Nếu cái thằng nhóc đó mà dám giở trò gì với Ngọc Hoa thì mình sẽ cho hắn đi đời nhà ma luôn!"

Bỗng dưng Young-Soo lên tiếng:

"Kiku nè, anh đang lẩm bẩm cái gì vậy, daze ~? Có tìm thấy dấu vết gì của chị Hoa không đấy?" Thằng bé dáo dác xung quanh hành lang, vẻ cũng nóng lòng không kém. "Mà chúng ta đã tìm từ nãy đến giờ rồi còn gì nữa! Haizz... kế hoạch kiểu gì vậy? Biệt thự Hoa Hồng rộng thênh thang thế này thì làm sao chúng ta có thể đi hết được chứ, daze~!"

"Thật tình... anh có lo đi tìm chị Hoa không đấy?" Mei-lin cáu tiết lên, cho dù tự bản thân cũng cảm thấy tội lỗi vì chính cô mới là người góp phần gây ra chuyện này. "Nếu như anh biết làm cho cái miệng của anh hoạt động ít lại thì có lẽ nãy giờ anh đã giúp đỡ tụi em nhiều hơn là cứ đứng đó làm người khác phát bực rồi! Jia Long nè, em có tìm thấy gì ở bên đó không?"

"Không," Jia Long lắc đầu. "Mà lạ thật, sao em có cảm giác là mình vừa nghe thấy cái gì đó... giống như tiếng của ai đang kêu rên nhỉ? Các anh chị có nghe thấy không?" Thằng bé vừa hỏi vừa cố áp tai lên bức tường.

Nhưng Kiku đã cố dỏng tai lên nghe — chẳng có tiếng động gì cả ngoài tiếng nhạc giao hưởng phá đám cứ vang lên từ gian phòng khiêu vũ và chốc chốc lại khiến cho anh cảm thấy sao nhãng.

"Hả? Có tiếng của ai đó ư?" Mei-lin bèn như bừng tỉnh, vội vàng chạy đến chỗ của Jia Long và cũng cúi xuống, áp sát tai vào tường để nghe ngóng xem có động tĩnh bất thường không. "Đâu? Để chị xem nào. Ê... em nói đúng, hình như đúng là có tiếng người rên thì phải! Hay đó chính là — "

"Là ma á?! Ôi mẹ ơi, đáng sợ quá con không muốn chết đâu, daze~! Oá oá oái~!" Bỗng Young-Soo thét lên.

Và thế là cả Mei-lin và Jia Long lại phải nhanh chóng túm vào để bịt miệng Young-Soo lại.

"Anh im đi! Bộ anh bị điên hả? Ma quỷ gì ở đây?! Giời ạ, em đang tính nói đó có thể là chị Hoa!" Mei-lin gắt lên.

"Sao anh vô ý quá vậy, Young-Soo? Hành lang này vắng người lắm. Anh mà hét to vậy thì tiếng vọng từ đây có thể dội ra chỗ hành lang gần gian đại sảnh khiêu vũ đấy," Jia Long nhắc nhở.

Rầm! Kiku bỗng hất mạnh cánh cửa của một gian phòng trước mặt mình một phát, bất ngờ đến nỗi khiến cho ba đứa em của anh dù đang mải mê gắt gỏng hay gào hét trong cơn hãi hùng gì thì cũng phải giật bắn người. Nhưng mà tiếng nhạc giao hưởng đang trên đà kịch tính dội lên từ phía phòng vũ hội khiến cho anh đâm ra mất bình tĩnh quá. Ở giữa chừng bản nhạc là một khúc độc tấu đàn violon kêu eo éo đã khiến cho Kiku vốn nóng ruột lại càng muốn điên đầu hơn rồi, tiếp sau đó còn thêm cả tiếng hoà âm vang lên khiến cho anh cảm thấy cả dàn nhạc giao hưởng, với một cách nghiêm túc và nhiệt tình đến mức lố bịch, như đang tạo thêm phần nhạc nền cho cái cuộc phiêu lưu bất đắc dĩ của anh và nhắc cho anh nhớ là còn có cả một thế giới hoa lệ thanh lịch đang vô tư nhảy múa ngoài kia, và việc anh — một thành viên ưu tú trong cái thế giới sáng loá đó — được yêu cầu là cần phải giải quyết mọi sự đau khổ của mình, bằng cách gì không biết nhưng nhất định là phải với một cung cách hoàn toàn tao nhã kèm theo một nụ cười nhếch mép mang đầy tính giễu cợt. Thế là, dù đang rất ức chế nhưng Kiku vẫn không thể ca thán nửa lời — và cũng có lẽ là do vừa nãy ở ngoài phòng giao tế anh đã gào thét quá nhiều nên bây giờ đâm chán rồi chăng? Toàn sách là sách trong cái căn phòng rộng lớn đó — nhìn thoáng qua thì có cả tượng bán thân của Thánh Lawrence, Machiavelli và Thánh Francis de Sales* nữa. Thư phòng đó được sắp xếp gồm có những ngăn kệ để sách vây xung quanh hai phía bức tường, và ở chính giữa là một chiếc bàn gỗ và ghế ngồi sang trọng, trên đặt những cuốn sách đọc dở, những bản đồ thiết kế kiến trúc, những vật dụng khác như một bức tượng nhỏ xíu dùng để chặn giấy, compa, bút chì và thước kẻ bị đặt để vương vãi nhưng rất nghệ thuật, phía sau chiếc bàn là một ô cửa sổ lớn với hai bên rèm nhung được vén lên gọn gàng.

Trông thoáng qua thì có vẻ chẳng có gì đáng ngờ ở đây cả. Young-Soo, Mei-lin và Jia Long cũng thập thò ở đằng sau lưng Kiku, tự hỏi là anh trai mình đang xem xét điều gì trong căn phòng. Nhưng Kiku chỉ im lặng ngó nghiêng quanh gian phòng một lát: dường như có một chi tiết mà anh suýt nữa đã bỏ qua. Bởi vì nếu nhìn kĩ, thì thực ra ở phía góc phải của cái bàn gỗ, đằng sau chỗ bức tượng bán thân của Thánh Francis de Sales và bị che khuất bởi cái kệ sách, còn có một khoang phòng được che kín bằng rèm đỏ nữa.

"Kiku... thực ra là có chuyện gì vậy? Ê, khoan đã, anh đang tính làm gì?" Mei-lin bèn kêu lên khi thấy anh mình xông thẳng vào thư phòng đó.

"Có thể là tiếng kêu đó phát ra đây từ lắm chứ!" Kiku chỉ lẩm bẩm có vậy.

Xoẹt! Anh bèn mở tấm rèm đỏ khả nghi đó ra — Và bất ngờ chưa!

Quả đúng là có một cánh cửa đã bị khoá ở đó.

"Oa! Hoá ra là có một căn phòng nguỵ trang ở đây à," Mei-lin thốt lên.

"Trời đất! Cái gì thế, daze~?!" Young-Soo kinh ngạc.

"Một căn phòng bí mật thì phải?" Jia Long nói.

"Để nhốt tù nhân á, daze~?!" Young-Soo lại hỏi nữa.

Jia Long bèn đảo mắt, làm vẻ như sắp bó tay với anh trai của mình rồi.

"Không, anh ạ. Mà anh làm ơn đừng có hỏi những cái câu ngớ ngẩn như thế được không? Lâu đài hay biệt thự nào mà chẳng có cái đường hầm bí mật để chủ nhân của nó thoát thân lúc cấp bách chứ. Cứ làm như mấy cái dinh thự nhà anh được xây dựng một cách trong sáng và không có cái đường exit nào để tẩu thoát khỏi bọn mafia lắm vậy."

"Chậc, đây không phải là đường hầm bí mật đâu mấy đứa," Kiku thở dài. "Anh đoán đây chỉ là một đường nối thông giữa thư phòng này với các hành lang khác trong Biệt thự Hoa Hồng thôi. Thử nghĩ xem, cái đường hầm bí mật gì mà làm sơ sài và dễ đoán như thế này? Trông chẳng giống với cái phong cách nghệ thuật đầy ẩn ý của Tiểu thư Louise Bonnefoy chút nào cả," anh nói bằng giọng mỉa mai.

"Ừm! Anh nói đúng đấy Kiku," Mei-lin gật gù. "Nếu đó là do chị Louise thiết kế thì bèo nhất cũng phải là cái dạng loge* (phòng quan sát) ở ngoài gian đại sảnh đằng kia cơ..."

Nhưng Mei-lin chưa kịp dứt lời, thì một tiếng động kì lạ đã vang lên từ phía bên kia của cánh cửa. Ầm! Một âm thanh đập cửa thô bạo kèm theo tiếng rên, "Ư... hư hư..." vang lên khiến người khác rợn cả tóc gáy.

Và thế là Young-Soo, Mei-lin và Jia Long bèn giật lùi lại và núp đằng sau lưng Kiku, người cũng đang mở tròn mắt, thao láo nhìn về phía cái cửa.

"Kiku, đừng nhìn! Kẻo có con quái vật nào đó xông ra đâm mù mắt anh đấy, daze~!" Young-Soo che mặt lại và hét lên.

"Kinh khủng quá đi!" Mei-lin cũng cuống cuồng túm lấy tay Jia Long. "Sau vụ này em sẽ không xem The Exocist* quá mười hai giờ đêm nữa đâu! Huhuhu!"

"Mấy... mấy đứa cứ bình tĩnh! Anh sẽ bảo vệ mấy đứa mà," Kiku vội trấn an hai đứa em, mặc dù giọng của anh cũng run không kém.

Ầm! Rầm... ầm! — Nhắc mới nhớ, bây giờ mấy cái tiếng động bất thường đó nghe giống như có ai đang dùng chân đá vào cửa vậy.

"Ư hư hư!" Âm thanh rên rỉ kinh dị đó lại cất lên.

"Uầy, chẳng lẽ nhà Bonnefoy lại nhốt một con quái vật kiểu Basilisk hay Nagini nào đó khiến người ta hoá đá khi nhìn vào mắt nó à? Vậy thì nguy hiểm rồi đây," Chỉ có mỗi mình Jia Long là giữ được bình tĩnh, nhưng không biết là thằng bé đang nói thật hay đùa.

"Nếu đã giữ một con mãng xà nguy hiểm như thế thì chí ít cũng phải đem nó xuống lòng đất chứ?! Sao cái nhà này ngu vậy? Trong truyện nó viết như thế mà," Kiku liền nhảy dựng lên, vừa nện chân thình thịch xuống đất vừa hét, lần này thì anh còn thiếu kiềm chế hơn cả Young-Soo lúc xem phim A Tale of Two Sisters* nữa. "Ôi mẹ ơi, đừng có nói là Tiểu thư Bonnefoy hằng ngày vừa viết sách vừa ngồi ngắm con mãng xà này rồi cho nó ăn đấy nhé... Anh đã biết ngay từ đầu cô ta là một kẻ nguy hiểm rồi mà! Có thể Ngọc Hoa và Alfred đã thành mồi cho cái con Nagini đó rồi chăng?! Ôi khôôônngg!"

Kí ức của Kiku khi một mình chiến đấu với Yamamura Sadako* với cái băng video đáng nguyền rủa, à quên bị nguyền rủa thật ấy chứ, bỗng hiện về trong cơn kinh hãi tột bậc. Trí tưởng tượng của Kiku không phải là không thiếu, thậm chí còn rất thừa nữa là đằng khác, nhưng vì những quy định khắt khe do xã hội đặt ra đã yêu cầu mọi thành viên sống trong tổ chức của nó phải tỏ ra bình thường và lành mạnh hết mức có thể, nên anh đã bị ép là phải giấu nhẹm cái trí tưởng tượng này đi và chờ đến một hôm thì bộc phát không thể kìm hãm được. Hay nói cách khác, là một khi cái "phanh" đã bị gạt ngược lại, thì Kiku sẽ chỉ còn nước trở về với gian phòng u tối của mình và cương quyết gạt phắt mọi mối quan hệ xã giao đi để trở về với lịch sử là làm một hikkikomori mà thôi.

"Ai đó bịt miệng anh ấy lại đi," Jia Long tặc lưỡi, thậm chí còn không thèm nhìn Kiku.

"Kiku, anh hãy bình tĩnh lại đi! Anh đang nói cái gì vậy?" Mei-lin nói, lay lay vai trái của Kiku của nhắc anh trấn tĩnh lại. Bỗng dưng khi nhìn thấy cảnh Kiku bị kích động như vậy cả cô bé lẫn Young-Soo chẳng còn thiết tha gì tới mấy cái hồn ma quỷ ám kia nữa.

Tuy nhiên Young-Soo thì vẫn cứ ngó ngang xung quanh cánh cửa và quan sát bức tượng của Thánh Francis de Sales với vẻ dò xét.

"Này! Anh đang làm gì vậy? Anh cứ táy máy tọc mạch như thế thì cẩn thận làm vỡ bức tượng đấy," Mei-lin nói. "Ở yên một chỗ cho tụi em nhờ đi."

"Hả? Nhưng anh có làm gì đâu," Young-Soo bèn cãi ngay. "Anh chỉ muốn xem đâu là cái chốt dùng để mở khoá cửa thôi. Nè nè, em đã xem mấy bộ phim trinh thám chưa? Thường thường thì người ta chỉ cần xoay cái bức tượng này thôi là cánh cửa sẽ tự động mở ra đấy!"

"Cái gì?! Này, đừng có mà làm bậy làm bạ nhé," Kiku đứng ra can. "Em mà mở cửa rồi lỡ con mãng xà chui ra ngoài thì sao?"

"Bộ mấy anh tin vào ba cái vụ đó à?" Mei-lin nhíu mày hỏi.

"Lỡ không phải là mãng xà Nagini mà là chị Hoa ở bên kia cửa thì sao?" Jia Long bèn nói.

Và mọi người đều im lặng. Ba anh chị quay mặt lại nhìn thằng em út, không nói không rằng.

"Còn tệ hơn nữa," Jia Long tiếp tục. "Lỡ không phải chỉ có mình chị Hoa, mà còn có cả anh Alfred nữa thì sao?"

Mọi người lại im lặng nữa, đợt hai.

Tiếng Rầm... ầm! đập cửa lại vang lên.

"Chết tiệt! Thế mà sao mình lại không nghĩ ra sớm chứ," Kiku liền bổ nhào tới cánh cửa. "Nhưng mà làm sao mở cái cửa này ra đây?! Phải rồi, bức tượng Thánh Francis de Sales! Young-Soo, em thử xoay nó xem nào!"

Young-Soo bèn tức tốc xoay cái bức tượng của Thánh Francis de Sales. Nhưng chẳng ăn thua gì cả. Kinh nghiệm xem phim của thằng bé thế là đi tong. Cánh cửa vẫn cứ đứng trơ ra đó mà chẳng động đậy gì cả.

"Sao xoay mấy lần rồi mà sao cái cửa này vẫn đứng ì ra đó vậy?" Kiku dần mất kiên nhẫn.

"Làm sao em biết chứ?!" Young-Soo lúng túng. "À, hay là phải ấn vào đầu ông Thánh này thì cánh cửa mới mở ra, chứ không phải là xoay bức tượng?"

"À, mấy anh ơi," Jia Long cất tiếng.

"Chuyện gì?! Jia Long, em đừng có đứng đực ra ở đó nữa mà hãy mau chuẩn bị thuốc nổ đi! Lỡ đó có là một con mãng xà Nagini hay là cái thằng Alfred ở bên kia đi chăng nữa thì chúng ta cũng sẽ cho chúng nó nát đầu! Nè nè, Mei-lin, em với anh thử xoay mấy cái bức tượng Thánh Lawrence và Machiavelli đằng kia xem cái cửa nó có nhúc nhích gì không!"

"A, vâng ạ," Mei-lin liền gật đầu nghe lời.

"Có một cái chìa khoá treo ở đây nè," Cuối cùng Jia Long bèn chỉ ra. "Mọi người có muốn thử xài nó thay vì cứ cố xoay xoay mấy cái đầu không?"

Cả bốn người bỗng chốc đều khựng lại. Im lặng chừng ba giây.

"Uầy, đưa chị xem nào," Mei-lin nói. "Có chìa khoá à? Vậy mà sao không bảo sớm? Đấy, thấy chưa?" Cô liếc nhìn về phía Young-Soo, vẻ trách móc. "Thế mà anh lại cứ vỗ ngực bảo là tự hào với mấy cái kinh nghiệm anh gặt hái được từ xi-nê lắm ấy!"

"Ớ, nhưng trong phim hình như cũng có cái cảnh này mà!" Young-Soo bèn cãi lại. "Để tạo hiệu ứng hài hước..."

"Cái thứ hài hước kiểu lãng xẹt ấy hả?" Mei-lin gạt phắt.

"Hai đứa thôi đi," Kiku nhắc, và lấy chiếc chìa khoá từ tay Mei-lin. "Có chìa khoá là may lắm rồi!"

Nhưng ngay khi Kiku vừa dứt lời, thì tiếng rên rỉ và đập cửa ầm ầm, âm thanh sột soạt rồi lịch kịch bí hiểm nào đó từ phía bên kia cánh cửa lại tiếp tục vang lên.

"Ư hư... hư hư hư...!"

Đột nhiên cả Young-Soo và Mei-lin lại cảm thấy hơi lạnh sống lưng, không nói không rằng bèn chạy ra núp sau lưng của anh Kiku.

"Thế thì em có cần phải chuẩn bị thuốc nổ không?" Jia Long hỏi.

"Ờ... ờ... phải chuẩn bị chứ. Em nhớ đứng đằng sau lưng anh, chỉ cần anh mở cửa ra một cái thôi là lỡ có cái gì khả nghi thì em phải cho nó ăn đạn luôn nhé!" Kiku nói.

Thực sự thì công việc mở cánh cửa này ra sẽ đòi hỏi rất nhiều sự can đảm đấy, Kiku nghĩ thầm trong bụng. Nhưng mà cả gia đình đang đặt trọng trách lên vai anh. Và... tự dưng anh bỗng ngờ ngợ, là không hiểu sao cái tiếng kêu rên đó lại nghe giông giống tiếng van vỉ của ai đó mà anh thấy rất quen.

"Ư... hư hư hư... huhuhu..." Mà hình như tiếng rên đó đã bắt đầu sắp chuyển thành tiếng khóc rấm rứt rồi thì phải.


Lại nói về nhóm anh em xứ Bắc Âu cũng tình nguyện tham gia vào đội quân tìm kiếm Công tử Alfred và Ngọc Hoa khi đó, thì với cái kế hoạch ngốc bọ xít của Đại Đội trưởng Mikkel Johansen nếu có được hiệu quả là nhờ ăn may thôi chứ không phải là do chiến thuật gì bài bản hợp lí cả thì đương nhiên, trước khi tìm ra được chút manh mối nào đó có liên quan đến mấu chốt của vụ án, cả năm người họ đã phải chia nhau ra và đi lòng vòng quanh gian đại sảnh mà không thể định hướng được rõ ràng là bước đầu tiên là họ cần phải làm gì, đi đâu. Họ đã có thể thử hỏi những người ở đây để xem ai đã từng nhìn thấy Alfred và Ngọc Hoa, hay thậm chí là chứng kiến thấy cảnh hai người đó đã đi với nhau... Nhưng vì chuyện Vua Quân Rô Alfred bỗng dưng mất tích không thể bị làm rộ lên trước đài báo toàn thế giới được, nên các thành viên trong Hội Những người thừa kế đều phải hết sức cẩn thận và tiếp tục con đường phá án trong âm thầm và bí mật. Đích thân Tiểu thư Louise Bonnefoy sẽ ra ngoài gian đại sảnh để điều hành cuộc tìm kiếm này, để nếu ai mà có tin tức hay động thái gì thì cũng phải báo cho cô biết trước mà thu xếp tình hình, không thể gây xáo trộn buổi lễ khiêu vũ và làm lộ bí mật của giới quý tộc trong phòng giao tế được.

Bàn cờ đầy nguy hiểm của Louise Bonnefoy bắt đầu. Ai nấy đều biết rõ vị trí của mình: hãy im lặng, chỉ nhìn và tập trung vào việc chính thôi, và khi có ai nhận ra và gọi lại thì đừng bao giờ trả lời. Nhất là đối với đám đài báo tò mò, tọc mạch. Tuy nhiên, trong số những người thừa kế thì có vẻ chỉ riêng Emil Steilsson là còn cảm thấy hơi lúng túng. Louise đã dặn kĩ Berwald và Tino là phải kèm sát cậu em út của họ và đừng để thằng bé làm chuyện gì dại dột. Lo lắng cho Emil có vẻ như không thừa tí nào, bởi vì trong một số trường hợp bất đắc dĩ khi thấy các quý cô tỏ ra chèo kéo quá đáng, cậu lại tỏ ra lúng túng chẳng biết phải xử trí làm sao.

"Ơ kìa, đó có phải là Công tử Steilsson không? Đúng là cậu rồi!" Một vị tiểu thư thốt lên. "Thật là bất ngờ quá, không ngờ lại gặp được cậu ở đây."

"Hả... ơ?" Emil bối rối, cố gắng lặng lẳng quay đầu đi và giả vờ như không nghe thấy quý cô kia vừa gọi mình, nhưng không được. Bốn năm cô gái đã nhanh chân vây quanh lấy cậu và cứ kẹp chặt đến nỗi thậm chí cậu còn không sải bước được chứ đừng nói là tìm cách trốn đi.

"Chúng tôi đã tìm hoài ở gian đại sảnh từ nãy đến giờ rồi, vậy mà chẳng thấy tăm hơi của cậu đâu," Một cô gái khác săn đón, "Cậu đã ở đâu vậy? Cậu Steilsson? Xin cậu đừng đi, quả thực chúng tôi rất mong có cơ hội được trò chuyện với cậu."

Nếu như có Berwald và Tino ở đây thì Emil đã có thể kiếm cớ chuồn êm rồi. Một trong những nguyên tắc cơ bản mà ai trong giới quý tộc quyền quý cũng phải thuộc lòng là khi cậu không muốn nói chuyện với ai đó hoặc bất đắc dĩ phải đẩy họ ra, thì hãy cứ tỏ vẻ kiêu kì và làm bộ khinh khỉnh với họ, và nếu cần thiết thì hãy cầu cứu lấy một nhà quý tộc khác ở gần đó, làm ra vẻ mình đang bận rộn nói chuyện với họ và khéo léo xua những "cái đuôi" phiền phức đi. Nhưng mấy cái cô tiểu thư này bám dai quá, còn Emil thì vẫn chưa biết tỏ ra cương quyết như các anh của mình nên cứ bị kìm kẹp ở mỗi chỗ đó mà không sao thoát ra nổi. Không biết các anh trai của Emil đang lảng vảng ở chỗ nào trong gian đại sảnh mà không thể đến giải vây cho cậu được, chứ cậu cảm thấy ớn mấy cái cô tiểu thư bám càng này lắm rồi.

"Công tử Steilsson à, cậu xuất hiện trong buổi dạ hội Valentine đêm nay quả là bất ngờ thật đấy," Một quý cô tiếp tục nói. "Lời đồn quả không sai. Tôi đã từng nghe nói nhiều về cậu rồi, nhưng đến giờ mới có dịp gặp mặt. Người ta bảo cậu rất hào hoa, điển trai và bí ẩn nữa!"

"Cậu Emil mới từ Iceland đến đây đúng không ạ?" Một cô gái khác đon đả hỏi. "Chà, thảo nào, trông cậu có vẻ hơi lạ lẫm. Có thể vì không quen với môi trường quý tộc ở đây nên cậu mới tỏ ra lúng túng như vậy. Cậu đi với tôi nhé, tôi sẽ chỉ cho cậu — "

Cô gái kia chưa kịp dứt lời thì đã có một quý cô khác nói xen vào, giọng mỉa mai:

"Xin lỗi tiểu thư, nhưng Công tử Steilsson đây không thiết tha gì với việc có người thích chỉ bảo cho cậu ấy phải đi đứng và giao thiệp thế nào với giới quý tộc đâu. Nếu chỉ xét về phương diện bao gồm cả kiến thức lẫn kinh nghiệm của công tử về xã hội thượng lưu thế giới, thì bất kì ai trong số chúng ta cũng đã phải biết khiêm nhường mà im lặng học hỏi cậu ấy dài dài rồi. Thế nên tôi khuyên xin tiểu thư đừng tỏ ra vụng dại, dám tự đánh giá cao bản thân mình trước mặt một người thậm chí còn quyền quý hơn mình gấp bội như thế."

"Sao?! Cô dám nói...!" Cô gái kia bèn kêu lên.

"Xin các quý nương thứ lỗi, tôi đang có việc gấp," Emil kiếm cớ ngay.

"Ôi, đừng chứ thưa công tử. Thú thực, chúng tôi rất ái mộ cậu..." Các cô gái liền túm Emil lại.

Thế là, tấn hài kịch vô nghĩa này bèn kết thúc khi có sự can thiệp của một nhân tố bất ngờ khác.

"Công tử Emil Steilsson, là cậu phải không?"

Một giọng nói trong trẻo, tuy có vẻ hơi rụt rè và khiêm nhường, bỗng cất lên từ đằng sau lưng các quý cô đang vây xung quanh Emil.

"Hơ?" Emil rất đỗi ngạc nhiên.

Đó chính là Tiểu thư Angelique Faure, một trong những tâm điểm của buổi dạ vũ lần này. Cô đã xuất hiện vào đúng lúc Emil đang gặp nạn.

"Đúng là Công tử rồi, quả là tôi đã không nhìn nhầm," Angelique bật cười, vẻ nhã nhặn.

"A! Vâng! Tôi xin lỗi... à không, xin chào tiểu thư," Emil như bừng tỉnh, liền bật dậy ngay lập tức và thậm chí còn bối rối hơn nữa khi nhìn thấy nụ cười của Angelique. Làm sao bây giờ? Cậu không biết phải nói thế nào.

"Vâng, thực ra thì tôi cũng khá bất ngờ trước sự xuất hiện của công tử," Angelique nói, "đặc biệt là ban nãy. Đó quả là một bất ngờ rất, rất thú vị! Cảm ơn công tử đã giúp đỡ tôi."

"Không, có gì đâu mà," Emil nói, vẫn chưa hết lúng túng. "Ý tôi là... đó là vinh dự của tôi, thưa tiểu thư. Đáng lẽ ra chính tôi mới phải là người cảm ơn tiểu thư vì đã được cô chiếu cố nhảy cùng trong điệu vanxơ ban nãy mới đúng."

Và cô bè bèn chìa tay ra cho Emil lịch lãm cúi xuống và hôn nhẹ lên — một nghi thức xã giao thường thấy trong giới quý tộc. Tuy nhiên điều đó lại khiến cho các cô gái xung quanh cảm thấy rất đỗi ghen tị và tức giận.

"Sao? Sao lại thế được cơ chứ? Con bé đó đúng là đáng ghét mà," Một cô gái bực bội, thì thào với người bên cạnh.

"Đến cả cậu Emil của chúng ta mà nó còn bỗng nhiên đứng ra hẫng tay trên cơ đấy. Đã là loại con gái thuộc hàng vô loài rồi, được đi lên là nhờ Tiểu thư Louise chiếu cố cho vậy mà còn dám không biết điều! Nhìn cái bộ dạng trơ trẽn của nó kìa, thảo nào ở trường cứ hay bị người khác ghét bỏ là phải. Rồi để xem, chúng mình sẽ cho nó biết cái thân phận hèn kém của nó mà trở về với thực tế đi. Chứ cứ ở đó mà mơ tưởng này nọ. Nhà Bonnefoy mà hết yêu chiều nó thì nó cũng sạch túi, chẳng còn gì."

Emil và Angelique không phải là không nghe thấy những lời độc mồm độc miệng vừa rồi. Nhưng những kẻ nói xấu sau lưng người khác thì lúc nào chẳng có. Nếu như ở nhà Emil phải chịu áp lực từ gia tộc và những ngày đầu mới bước chân vào nơi giao tế — là khoảng năm bảy tuổi, ngay sau khi vừa mới được phát hiện là con trai của Ngài Marius Bondevik và Phu nhân Brynja Steilsson — đã không có ít người đàm tiếu sau lưng cậu bé và nói những câu từng làm tổn thương cậu rất nhiều, "Này, cậu không thấy sao? Cái thằng bé ấy... nó kì kì thế nào ấy. Đúng là bị lạc vào trại trẻ mồ côi có khác! Có khi bị đánh đập hay đối xử tệ bạc quá nên mặt nó đâm cứ lầm lầm lì lì. Nhìn cũng dễ thương, vậy mà sao tính khí chẳng ra gì. Hôm nọ nó còn nổi giận với mẹ nó ném đồ đạc vỡ cả cửa kính, làm u đầu mấy cô phục vụ nữa đấy!"... thì Angelique cũng chẳng khá hơn. Cô đã luôn bị nhận những lời hăm doạ, có khi nói thẳng ra miệng hoặc chỉ là một liếc mắt sắc lẹm chất chứa sự hiềm thù tị nạnh nào đó, của không chỉ những học sinh trong trường W Academy mà còn cả những nhà báo phóng viên dối trá đầy ác ý, luôn thêu dệt đủ điều và tìm cách bới móc cô.

Nhưng mà cách tốt nhất cũng là đành phải phớt lờ những lời độc địa đó thôi.

"Emil này," Angelique ngây thơ nói. "Mình nghe một số người bảo là gu thẩm mỹ của cậu rất tuyệt, phải không? Cậu đã nhiều lần góp ý kiến để chọn đồ cho chị Louise, rồi Monsieur R. nữa thì hẳn chắc là một người có con mắt nghệ thuật thực thụ rồi. Mình có bản phác hoạ về ý tưởng một bộ váy mà mấy ngày trước đã nhờ chị Louise gửi cho cậu. Không biết cậu đã xem qua chưa?"

Và cô bé xoay người, nói chuyện rất vui vẻ với Emil để dễ dàng tách cậu ra khỏi đám con gái bám đuôi kia, mà vẫn giữ được vẻ tự nhiên mà không gây lúng túng cho cả hai.

"Bộ váy nào? Xin lỗi, nhưng tiểu thư đang nhắc đến thiết kế của...?" Emil tưởng thật. Nhưng khi thấy Angelique nháy mắt nhanh để ra hiệu cho cậu, rằng bộ váy mà cô nói tới thực chất chỉ là cái cớ thôi, thì Emil đã hiểu ngay.

"À! Phải rồi, thiết kế của bộ váy màu hồng tuyệt diệu đó!" Emil liền giả bộ thốt lên, hơi kịch và khô cứng một chút nhưng cũng tạm chấp nhận được — đủ để làm cho mấy cô gái kia nổi hứng tò mò. "Chà, tiểu thư Angelique mà không nhắc thì chắc tôi cũng quên khuấy mất. Vâng, phải rồi, tôi nhớ ra nó rồi. Những viền đăng ten bằng vải satin sẽ là một ý tưởng khác thường nhưng cực kì thú vị cho kiểu váy như thế. Đây phải nói một sáng kiến, chứ không phải một ý tưởng bình thường nữa. Phải rồi, nhưng tôi cũng xin lưu ý với cô về cái cổ áo... Tôi nghĩ là..."

"Vâng, vâng, xin công tử đến chỗ tôi để nói thêm về bản thiết kế," Angelique cười nhạt. "À, phải rồi, tôi có nghe loáng thoáng là vào mùa xuân năm sau sẽ có buổi biểu diễn đàn piano của Công tử ở Berlin, không biết liệu có phải không...? Nếu là thật thì tôi nhất định sẽ ghé xem."

Emil và Angelique vừa đi vừa cười nói, trò chuyện với nhau những thứ mà tưởng như chỉ có hai người họ mới biết khiến cho các cô gái kia ngay lập tức liền cảm thấy xấu hổ, bị gạt ra ngoài và đành phải đứng yên ở đó mà dõi theo hai vị công tử và tiểu thư kia rời đi. Thế là Emil được an toàn.

"Trời ơi, hú vía," Emil liền ngồi sụp xuống, đánh thở dài cái thượt khi đã được thoát khỏi vòng vây.

"Ừ, công nhận là mấy người đó đáng sợ thật đấy," Angelique gật đầu, cũng mệt mỏi khi phải đóng kịch trước mặt mọi người như Emil. "Nè nè, cậu có muốn uống một chút nước mát không?"

Emil gật đầu. Và quản gia Laurent đã nhanh chóng đi lấy cho họ hai li nước quả ướp lạnh với ống hút. Một li là nước ép phúc bồn tử cho Emil, còn li kia là nước chanh cho Angelique.

"Có ngon không hả?" Angelique hỏi, sau khi đã thấy Emil uống nước và tỏ ra bình tĩnh hơn một chút. Vẻ mặt nhã nhặn làm bộ làm tịch vừa nãy bỗng biến mất mà thay vào đó là một cô bé Angelique có nụ cười giản dị và hồn nhiên.

"Ơ... ừ! Ngon, ngon lắm!" Mặt Emil đỏ bừng. Trong lúc bối rối, cậu đã lỡ uống một ngụm nước quả thật lớn mà không hề quan tâm đến việc mình có thể bị sặc hay đau họng khi uống một lần nhiều nước lạnh đến thế, "Quả là... nước ép phúc bồn tử rất ngon."

Vẻ lúng túng của Emil làm cho Angelique cũng có đôi chút ngạc nhiên. Cậu bé dường như khác hẳn với chàng hoàng tử tóc bạch kim, lịch lãm, tự tin nhưng xa lạ đã giúp đỡ cô lúc nãy, mà thay vào đó là một cậu bé Emil đáng yêu, có phần hơi nhút nhát nhiều hơn là bí ẩn, nhưng chân thành và có lẽ là cũng rất nhạy cảm nữa.

"Hì hì, thế à?" Angelique cười đáp. "Vậy thì hay quá, cậu thích là được rồi. Tớ cũng thích uống nước hoa quả lắm. Nó làm cho tớ nhớ hồi còn ở Seychelles: đi đâu cũng thấy biển, và người người thì vừa mặc đồ bơi, tắm biển, tắm nắng và cùng ăn kem rồi uống nước chanh đá. Ai ai cũng cười đùa, trò chuyện và đối xử với nhau rất chân thành. Lúc đó vui ghê ấy!"

Và trong khi Angelique đang hào hứng kể về quãng thời gian mình còn ở quê hương Seychelles thì Emil đã cảm thấy... bụng mình nhộn nhạo giống như là có những con bươm bướm đang bay bay khắp nơi trong ruột mình (cái đó, thực chất được người ta gọi là cái cảm giác "ngất ngây" khó tả, tuy nhiên chúng ta hãy khoan nói điều này cho một cậu bé ngây thơ như Emil đã), và cậu quyết định uống thêm một ngụm nước thật lớn nữa, bất chấp khả năng có thể bị đau họng vì viêm đờm amiđan.

"Chà, cậu uống nhiều quá ha," Angelique liền nói khi phát hiện ra cái cốc nước ép phúc bồn tử của cậu bạn bên cạnh mình đã bị vơi đi hết một nửa chỉ trong vòng hai nốt nhạc. "Không ngờ Emil còn thích nước trái cây hơn tớ nữa đó. Hi hi!"

"À... ừ, tớ... cũng thích nước... lạnh quá," Emil ấp úng, khịt mũi như thể bây giờ chính cậu cũng đang thở ra hơi giống mùi của nước ép trái cây vậy. "À, phải rồi, chuyện vừa nãy!"

"Ừ, có gì không?"

"Chuyện vừa nãy... thực sự rất cảm ơn cậu," Cuối cùng Emil nói. "May mà nhờ có cậu giúp đỡ, chứ nếu không thì tớ đã gặp nguy rồi."

"Chà, có gì đâu mà cảm ơn," Angelique xua tay. Rồi chợt, cô bỗng kêu lên, "À, mà khoan! Đúng rồi, bây giờ cậu nhắc mới làm tớ sực nhớ!"

Và cô bé bèn hạ giọng, ngó nghiêng xung quanh trước khi cúi đầu xuống, thì thầm nói, "Emil nè, chẳng phải cậu là một trong số những người thừa kế sao? Sao không nhóm họp ở đằng sau mà lại ra ngoài này vậy?"

"À, chuyện đó..." Emil lắc đầu. "Tớ không thể nói được."

"Vì sao vậy?"

"Vì chị Louise bảo thế. Chị ấy đã dặn là chúng tớ là không được phép tiết lộ về chuyện trong gian nhiếp chính, thậm chí là không được tiếp chuyện với bất cứ ai ở ngoài gian đại sảnh nếu không cảm thấy cần thiết. Vậy nên tớ không thể nói cho cậu biết được," Emil bèn nói. "Suỵt, nhưng mà khẽ thôi — chị Louise đang ở gần đây. Chị ấy đang theo dõi và điều hành nhất cử nhất động của mọi người đấy."

Angelique nghe thấy thế, bèn gật gù:

"À, tớ hiểu rồi, ra đó là một chuyện khó nói. Thế thì thôi, tớ cũng chẳng làm phiền cậu nữa. Chỉ là tớ hơi tò mò là sao đang giữa lúc họp lại có nhiều người ra gian đại sảnh vậy thôi. Vừa nãy tớ còn thấy Giovanni và Monique — nhưng họ chỉ đi lướt qua thôi, và không ai tài nào gọi họ lại được. Hoá ra là vì chị Louise đã ra lệnh là họ không được nói chuyện với ai. Chắc phải là chuyện lớn lắm nhỉ, nên mới huy động nhiều người thế này."

Rồi cô lơ đãng, uống thêm một ngụm nước ép nữa trước khi nói tiếp, "Thực ra vừa nãy, lúc nhìn thấy Alfred cứ lúi húi làm cái gì đó trên cái phòng quan sát kia, tớ cũng ngạc nhiên lắm, cứ tưởng là cậu ấy trốn họp hay gì chứ. Ai dè là cậu ấy đang làm theo lệnh của chị Louise."

"Ừ... ừm... Hả?!" Emil đang chăm chú lắng nghe thì bỗng khựng lại. "Cái gì? Angelique, cậu vừa mới nói gì cơ?"

"Hở? Sao vậy?" Angelique giật mình, ngạc nhiên trước thái độ của Emil. "À, thì tớ mới nói là chắc phải có chuyện gì nghiêm trọng lắm nên cuộc họp mới bị hoãn giữa chừng như thế."

"Không, không phải. Là cái đoạn sau đó cơ! Cậu mới nói... là cậu đã nhìn thấy Alfred ở trên khoang quan sát hả?"

"Ừ? Đúng rồi," Angelique gật đầu. "Sao, có chuyện gì à?"

Đúng lúc đó một giọng nói oang oang bỗng vô duyên vô cớ bỗng từ đâu xuất hiện.

"Hế lô! Cả hai bạn trẻ đang bàn tán chuyện gì với nhau vậy?"

Cả Emil và Angelique liền khựng lại.

Và giật bắn.

"Trời đất!" Và đó là tiếng của Emil.

"Oái, ai vậy?!" Và đó là tiếng của Angelique.

May mắn là có ai đó nhanh tay đã túm lấy miệng của Emil và Angelique và kịp thời dúi đầu hai người xuống, chứ nếu không thì mọi người đã hướng sự chú ý về phía bọn họ rồi.

"Này, hai đứa to mồm quá đấy!" Hoá ra kẻ vô duyên đó chính là Mikkel Johansen.

"Mồm anh còn to hơn!" Emil gắt.

"Hừm... thật là không thể tha thứ cho nhóc được," Và đó là Lukas đang nói với đứa em út của mình. "Dám trốn nhiệm vụ để ngồi chơi với con gái, đã thế lại không thèm thông báo cho tụi anh lấy một câu. Trông nhỏ con thế mà cũng tầm ngẩm tầm ngầm ghê gớm thật."

"Ê hê hê, cậu út nhà chúng ta mà lại," Mikkel châm chọc, hít hít đầu của Emil. "Ái chà, lại còn ngồi chơi xơi nước với nhau nữa chứ. Khắp người em toàn mùi nước ép trái cây à nha! Trong khi tụi anh phải căng mắt ra đi kiếm em."

"Thì sao? Tôi làm gì thì kệ tôi chứ," Emil càng tức tối hơn, nhưng vẫn phải ghìm giọng xuống.

"Hà hà, xin lỗi nha, tụi anh làm em giật mình hả?" Và đó là tiếng cười xoà của Tino. "Tự dưng quay qua quay lại một hồi lại chẳng thấy em đâu, khiến tụi anh cứ lo không biết em đi đâu. Hoá ra là em đang ở đây với Tiểu thư Angelique, làm anh lo quá phải bảo Mikkel và Lukas đi tìm em."

"Tụi anh đã dặn em là phải đứng yên ở chỗ đó rồi mà. Bộ lúc tụi anh quay đi đã có chuyện gì xảy ra với em à?" Berwald bỗng xuất hiện từ đằng sau lưng của Tino. "À, mà đây có phải là Tiểu thư Angelique Faure nổi tiếng mà em vẫn thường hâm mộ không?"

"Mấy anh làm ơn yên lặng cho!" Emil giãy nảy lên. "Sao toàn xuất hiện vào giữa những lúc lãng xẹt nhất vậy?"

Chỉ riêng Angelique là chẳng hiểu gì cả. Cô bắt đầu ngờ ngợ ra gương mặt của bốn chàng trai đang nói chuyện với Emil.

"Ủa? Có phải các anh là... Mikkel Johansen, Lukas Bondevik, Berwald Oxenstierna và Tino Vainamoinen không?" Cô bé bèn hỏi, lần lượt thứ tự từ phải sang trái và nhận thấy những người xung quanh đang hướng về phía mình, xì xào bàn tán, "Nhìn kìa, là nhóm Năm Hoàng tử xứ Bắc Âu. Họ đang ngồi cùng với Tiểu thư Faure đấy!"

May mà không xảy ra thêm một scandal nho nhỏ nào nữa. Angelique thở phào.

"Ừ, là tụi anh đấy!" Mikkel toe toét cười. "Chúng ta cũng chẳng lạ lẫm gì nhau mà, đúng không? Ở trường cũng có mấy lần chạm mặt nhau rồi, nhưng bây giờ mới có cơ hội được nói chuyện thân thiện với nhau như thế này."

"Em nhận ra tụi anh à?" Lukas nở một nụ cười dịu dàng, một điều hiếm thấy trên gương mặt dường như lúc nào cũng có vẻ điềm tĩnh và có phần lạnh lùng của anh.

"Vâng, có chứ. Hồi Vũ hội Giáng Sinh năm ngoái em cũng đã nhìn thấy tụi anh đi chung với nhau rồi," Angelique gật đầu lia lịa. "Vậy mấy anh với Emil là..."

"À! Quên chưa nói với em nhỉ," Tino liền nhớ ra, và vui vẻ chỉ về phía Emil. "Xin trân trọng giới thiệu với tiểu thư, đây là Công tử Emil Steilsson, người thừa kế của gia tộc Steilsson bên Iceland, và cũng là em họ của tụi anh đấy!"

"Sao? Em họ?" Angelique kinh ngạc.

"Hừ!" Emil lại gấm gẳn, quay mặt đi không nói gì.

"Đúng, đúng rồi đấy," Lukas lại giở cái giọng mỉa mai của mình ra, nhưng lại với một vẻ thân tình đến mức ngọt ngào tởm lợm và quàng vai bá cổ Emil. "Đây là cậu em trai út ít vô vàn yêu quý của nhà tụi anh đấy ~! Emil, em cũng gọi anh là "anh trai Lukas vô vàn yêu quý của em" đi!"

"Tôi cấm anh đụng vào tôi đấy!" Emil gạt phắt Lukas ra. "Ghê muốn chết chứ yêu quý cái nỗi gì!"

"Hai đứa nó trông thế thôi, chứ thực ra là thân nhau lắm ấy," Berwald nói khẽ với Angelique.

"À, ra là vậy ạ," Angelique mỉm cười, gật gù.

"Nói đùa! Tôi thân với anh ấy hồi nào!" Emil mặt đỏ bừng bừng chối phăng ngay tắp lự, bỗng dưng còn nói to hơn mức cho phép.

Giọng của Emil nghe nổi bật và ấn tượng đến nỗi tất cả các quan khách xung quanh bỗng như bị tia điện xẹt nào đó chích vào, liền đồng loạt quay đầu nhìn về phía nhóm Năm Hoàng tử xứ Bắc Âu và Tiểu thư Angelique ở phía trước gian đại sảnh và tỏ vẻ hiếu kì, không biết là cả sáu người họ đang bàn tán việc gì mà sôi nổi mà đến cả Công tử Steilsson cũng bị kích động thế kia. Nhưng lời giải thích mà mọi người nhận được chỉ là những ánh mắt lịch sự, thân thiện và sáu bộ mặt đang nở nụ cười cáo lỗi đối với toàn thể quan khách mà thôi.

Sau khi những kẻ tọc mạch kia đã quay mặt lại và thôi không tỏ ra quan tâm đến chuyện riêng của sáu người kia nữa, thì Mikkel mới ra hiệu cho cả bốn đứa em trai và Tiểu thư Angelique là phải hơi cúi đầu xuống và nói năng nhỏ nhẹ hơn một tí.

"Nè, Emil, vừa nãy em hét lớn quá đấy," Berwald nhắc nhở.

"Nhưng là tại Lukas..." Emil cảm thấy rất bất công.

"Thôi, đủ rồi, mọi người stop hết đi," Mikkel ra lệnh. "Đến giờ nói chuyện nghiêm túc rồi. Angelique, em lấy cái quạt ra che cho tụi anh với."

"Có chuyện gì vậy ạ?" Angelique hỏi, và giở chiếc quạt xanh mà quản gia Laurent đã đưa cho mình hồi nãy ra.

"Chuyện lớn đấy. Đó là về Công tử Alfred," Mikkel nói, rồi nhìn sang Emil. "Vốn dĩ anh phải phạt thằng nhóc này vì cái tội lại đi huyên thuyên với em về việc Tiểu thư Louise đã hạ lệnh cho mọi người đi tìm Alfred. Nhưng mà thôi, cũng may là nó đã may mắn chọn đúng người để tiết lộ bí mật này. Angelique, em nói là vừa nãy em có nhìn thấy Công tử Alfred ở trên khoang quan sát kia, ngay giữa lúc mà tụi anh đang họp Hội đồng Những người thừa kế à? Có đúng như thế không?"

"Các anh nghe lén tụi em nói chuyện à?" Emil nhăn mặt hỏi.

"Ờ, nhưng mà nghe đúng có mỗi đoạn cuối thôi," Tino cười đáp. "Tự dưng nó lại đúng cái đoạn em suýt kêu lên về chuyện Angelique đã nhìn thấy Alfred, nên cũng may."

"Vâng, đúng là em đã thấy... Hả? Khoan đã nào. Mikkel, anh vừa nói là Alfred bị làm sao cơ?" Angelique cảm thấy hơi khó hiểu.

"Thì đương nhiên là cậu ta bị mất tích rồi! Bộ thằng này vừa nãy chưa nói cho em biết à?" Mikkel đi thẳng vào vấn đề luôn.

Cả sáu người khựng lại. Và im lặng đúng ba giây.

Mikkel chớp chớp mắt, "Ủa? Bộ thằng Emil chưa nói gì cho em biết thật hả?"

"Dạ chưa," Angelique lắc đầu. "Em có biết gì về vụ đó đâu. Emil chỉ nói đó là chuyện rất nghiêm trọng... Alfred bị mất tích? Ơ, khi nào?!"

Lại im lặng nữa.

"Chúc mừng nhé, anh lại nói hớ nữa rồi, Mikkel," Lần này là Lukas với cái giọng mỉa mai thường thấy.

"Sao lại có người ngu thế không biết," Berwald tiếp lời.

"Thôi nào, chí ít là chúng ta cũng biết được một chút tin tức gì đó về Alfred, phải không?" Còn Tino thì vẫn luôn luôn nhìn về hướng tích cực, ngay cả trong những trường hợp đen tối nhất.

Chỉ riêng Emil là hết nói nổi, và cậu liền đập tay lên trán như thể bị một cơn đau đầu nặng.


Cuộc tìm kiếm diễn ra không mấy suôn sẻ gì. Thật ra, ngay từ ban đầu, Louise cũng phải công nhận là cái kế hoạch cũng có nhiều thiếu sót lỡ cỡ.

Ngồi trong khoang quan sát số 18 định mệnh với một ly cocktail và không được phép bước ra ngoài màn che trướng rủ để thực sự chiêm ngưỡng thành quả của mình — giống như một kẻ giả mù nhưng có đầu óc xuất chúng đứng đằng sau một bàn cờ nguy hiểm nhằng nhịt những chiến thuật zigzag nhức hết cả đầu, trong khi tiếng nhạc giao hưởng vẫn vang lên, đầu óc vẫn cứ phải suy nghĩ trong tình trạng bó buộc khôn tả nhưng bực tức vì chẳng thể mở mắt ra và tận mắt chứng kiến thấy chiến thắng của bản thân mình — đây chính là thời điểm thích hợp để một người như Louise Bonnefoy có thể kéo rèm lên, với một động thái đầy kịch tích, xuất hiện trước công chúng và làm họ phải nể sợ — thực chất là để giải toả nỗi căng thẳng và củng cố cho cái bản lĩnh và niềm tin về địa vị của cô; chứ không phải an phận ở đây để đợi chờ với nỗi buồn chán hoa lệ... Cô chờ đợi một mẩu tin tức. Nhưng cô còn chờ đợi điều gì?

"Chị không dám kéo rèm lên à?" Amelia đứng bên cạnh Louise, hỏi.

"Còn phải chờ," Louise vừa nói, vừa khuấy li cocktail.

"Chờ? Có mà chờ đến tuổi hai mươi," Amelia nói.

Và Louise bèn liếc mắt nhìn Amelia.

Đúng vậy, cô đang chờ đến tuổi hai mươi. Cô muốn được trưởng thành và khi đạt đến đỉnh cao của sự phù hoa vào tuổi mười tám rồi, cô sẽ dứt bỏ hết tất cả và bắt đầu cuộc sống mới. Đó là kế hoạch của cô. Đó là thứ mà hằng ngày kể từ khi nhận ra bản thân mình đã dần thay đổi theo năm tháng, vào một sáng cô thức dậy và nhận ra quyết tâm của mình là phải đặt ở đâu — ở chính cuộc đời mình chứ không phải là cái cuộc đời người ta đã gán ghép cho mình, thì cô đã coi những thứ phù du này giống như những thứ gì đó gai góc, ngáng trở nhưng vì cô đã tạo ra chúng rồi, nên bây giờ, cô cần phải hoàn tất để có thể vượt qua nó. Cô có thể bước tiếp mà không ân hận hay day dứt gì về những tháng ngày đã qua cả.

Những người duy nhất có thể bước ra chỗ lan can và lấy ống nhòm, ngắm nhìn cả gian đại sảnh đang nhảy múa trong âm nhạc và ánh sáng như một bức tranh sống động, phong phú, là Amelia và Nikolai. Nhưng cũng chỉ vì hai đứa chúng nó chưa đến tuổi. Trong khoang quan sát số 18 khi đó còn có cả Ngài Ivan Braginsky và Arthur Kirkland. Nhưng Ngài Ivan thì lại khác. Không phải là vì đã quá quen, mà là vì Ngài đã quá nhàm chán đến nỗi bây giờ lại đâm ra thích chế giễu, nhạo báng, rồi tỏ ra thương hại và phớt lờ tất cả những thứ phù hoa đang bày sẵn trước mặt Ngài hơn là muốn hưởng thụ và sống chung với chúng. Ngài muốn ra lúc nào thì ra, không thì thôi. Chẳng ai cấm được Ngài cả. Ivan đã phải chung đụng với những thứ lố bịch, nực cười này từ bao nhiêu năm trước rồi; còn bây giờ, thì Ngài không muốn can dự tới nó, lại càng không muốn để chúng làm tổn thương anh em hay con cái của mình.

Còn Arthur Kirkland thì luôn tỏ ra khinh khỉnh trước mọi hư vinh như thế này. Mà nói chính xác ra, chỉ riêng đời tư và những thực tế đau buồn mà anh đã từng trải nghiệm, nhất là về mặt tình cảm đã khiến anh như muốn thoái lui khỏi những rắc rối trong xã hội phù hoa rồi. Anh như sống một cuộc đời hai mặt: với cái phần hào nhoáng kia anh chỉ làm như đó là vì trách nhiệm và khi trò chuyện với người khác đồng đẳng cấp, trong cung cách ăn nói lịch sự anh dường như cũng bắt buộc người đối diện phải biết tôn trọng những cố gắng để hoàn thành tốt phận sự của anh — và chỉ cần đừng có táy máy tọc mạch gì về gia sự hay đời sống tình ái của Arthur là được; và cái phần kia, anh cất sâu và giữ kín trong lòng, bởi vì nó rất dễ bị tổn thương. Anh cũng có thể đứng dậy và mở tấm rèm lên để cho người ta thấy bộ mắt kia của anh. Nhưng họ phải nhớ — đó chỉ là cái bộ mặt mang tính quý tộc nhưng công nghiệp nặng nề mà anh đã phải rèn luyện suốt bao năm trời để có thể che kín đi cái phần nhạy cảm còn lại. Arthur Kirkland mà họ đang nhìn thấy là khác. Arthur Kirkland "bên kia" lại là khác.

"Thật đúng là... bộ cái thằng đó biến đi đâu mất rồi hay sao mà nguyên cả đám tìm không ra," Amelia vừa nhìn qua ống nhòm vừa nói. "Bố à, con đã hết kiên nhẫn cho ba cái trò này rồi. Đừng có nói với con là thằng Al nó bị bắt cóc rồi đấy nhé!"

"Sao con lại nói thế, Mia," Ông Ivan, dù lo lắng đến mấy nhưng bề ngoài vẫn tỏ ra bình chân như vại. "Con có thấy bữa tiệc nào do chị Louise của con chủ trì, thậm chí lại có sự xuất hiện của bố mà lại xảy ra bắt cóc không?"

"Coi thường chị mày à?" Louise khịt mũi.

"Hừm, nhưng cũng phải công nhận," Nikolai trầm ngâm, "chị làm cái vụ Luật Ba này cũng khó cho mọi người quá đấy Louise. Nếu không hỏi những người ở bên dưới thì làm sao biết được manh mối gì về Alfred chứ. Rất có thể họ đã thoáng thấy nó rồi thì sao?"

Luật Ba: Speak no Devil, Hear no Devil, See no Devil. Rõ ràng là có cái lợi nhưng cũng có cái hại của nó.

"Đài báo rất nhạy cảm," Louise cương quyết nói. "Nếu chúng ta hỏi nhiều quá thì sẽ gây ra một cơn xáo động bất thường đấy. Hơn nữa, bộ mày nghĩ là một cái thằng lẻn ra từ phía cửa Đông của gian nhiếp chính, lẳng lặng đi lên loge để ăn parfait trong khi ở dưới kia người người đang nhảy múa say sưa, đài báo đang điên đảo vì con bé Angelique, thì có thể lọt vào tầm mắt của đứa nào được hả? Tức cười."

"Chung quy cũng là vì việc thằng Alfred mất tích đã là một chuyện lớn, mà nếu đài báo biết về việc nó mất tích nữa thì còn lớn chuyện hơn," Arthur gật gù, thực ra là đang giở giọng chế giễu đối thủ của mình. "Cô toi rồi, Louise."

"Anh im đi! Bộ anh tưởng tôi không lo cho thằng bé mà chỉ lo cho mình tôi thôi chắc?!" Louise quạt lại ngay. "Cái bọn kia mà nó cứ rầm rập kéo đến thì lúc đó tôi cũng chẳng còn nhà để mà sống nữa đâu, chứ đừng nói là mở ra thêm cả tá cái vũ hội nữa để cho mấy người tha hồ tìm thằng Alfred."

"Ấy, cô lại nói quá rồi," Arthur vẫn mỉa mai. "Nếu như người ta phá sập cả cái Biệt thự Hoa Hồng này thì vẫn còn cái lâu đài của dòng họ ở Paris, rồi còn cái biệt thự La-Marguerite-Blanche ở Cannes, với lại ở ngay tại Geneva với Milan, Beverly Hills rồi Victoria ở Úc cô còn sở hữu cả chục cái dinh thự và villa nữa chứ. Mà thêm cả ở Nam Mỹ..."

"Anh còn nói nữa kẻo tôi xiên mồm anh lại bây giờ đấy," Louise hăm doạ. "Đấu kiếm không?"

"Ê, hai người!" Amelia xen vào. "Nhớ cho rõ là cái thằng Alfred mới là nhân vật chính trong cái vụ mất tích lần này đấy nhé."

"Và cả cái cô tên Ngọc Hoa gì gì đó nữa," Nikolai nhắc thêm, rồi lại từ lan can sà xuống chỗ ghế đi văng để ngồi cạnh ông Ivan. "À, phải rồi, anh hai à — hay là nhân thời điểm này mình làm đám cưới gấp đi anh!" Cậu bèn nói với giọng tha thiết.

Thế là ông Ivan liền sa sầm mặt, ngoảnh đầu đi như thể ông không muốn đề cập đến chuyện này tí nào. Trong khi Amelia thì nhún vai, đánh thở dài cái thượt và lắc đầu, hoàn toàn bỏ tay với cái ông chú Nikolai của mình.

"Đúng rồi, còn một chuyện quan trọng nữa," Ông Ivan nói. "Kolya, thực sự thì em đã đưa Yao đi đâu? Anh đã gọi cho vệ sĩ đi kiếm ông ấy rồi, nhưng chẳng thấy."

Nhưng Nikolai chỉ mỉm cười, vẻ bí ẩn, "Hì hì, anh nghĩ là em sẽ nói cho anh biết chỗ em đã giấu ông ta sao?"

"Em mà không nói, thì tự anh cũng sẽ tìm ra được," Ông Ivan cương quyết. "Amelia, bố sẽ đi rà soát quanh biệt thự để tìm người. Con với Nikolai ở lại đây, có tin tức gì thì nhớ báo cho bố nhé."

"Vâng, con biết rồi," Amelia gật đầu.

"Cái gì? Khoan đã! Anh hai, chúng ta còn chưa kịp — "

"Không được, Nick! Mày phải nhớ là người đang có thể ở trong thế ngàn cân treo sợi tóc và cần được giải cứu bây giờ là thằng Alfred chứ không phải là mày với cái đám cưới của mày, hiểu chưa? Vậy nên hãy ngoan ngoãn ngồi ở đây đi! Số phận của cả hai gia tộc Braginsky và Jones đang ở trong tay mày đấy. Còn bố, bố cứ đi đi và yên tâm giao Nick cho con," Amelia liền túm ngay Nikolai lại trước khi cậu ta kịp giao ra thêm một bản đăng kí kết hôn nữa.

"Được, thế thì bố đi nhé," Ivan bèn gật đầu và chạy vụt ra ngoài, hoá ra từ nãy đến giờ ông làm vẻ mặt nguy hiểm cũng một phần là vì muốn viện cớ chuồn êm.

"Nhưng mà! Không được, anh hai!" Nikolai vẫn chưa chịu từ bỏ. "Thật đúng là! Đám cưới làm chỉ có năm phút thôi!"

"Đừng hòng, để bố tao khóc mà nấc lên được ba tiếng "Tôi đồng ý" thôi thì cũng đã lố mất năm phút của cuộc đời tao rồi, " Amelia vừa giữ chặt lấy Nikolai vừa nói.

"Thế thì chỉ kí mỗi cái giấy đăng kí kết hôn thôi!"

"Cũng không được!" Amelia kiên quyết.

"Này, không ai bảo cho cậu ta biết thế là cưỡng hôn người khác à?" Louise nhăn mặt hỏi.

"Ờ, hay đấy. Nhưng cô đã từng tự hỏi là trong giai tầng của chúng ta đã có biết bao nhiêu vụ hôn nhân trái pháp luật chưa?"

Louise bèn im lặng suy nghĩ một lát.

Rồi nói, "Khá nhiều đấy."

Và trong khi Nikolai đang tuyệt vọng giãy giụa và Amelia cũng phải phát khổ vì cứ phải túm đầu ông chú của mình lại, thì bỗng có một người từ đâu chạy đến.

"Tiểu thư Louise đâu?!" Giọng của người đó oang oang, nghe rất hung hăng. "Tôi đã tìm thấy tên Alfred rồi đây này!"

"Hả? Cái gì?" Cả Amelia lẫn Nikolai đều kinh ngạc.

"Sao? Đã tìm thấy Al rồi à?" Louise bèn bật dậy. "Nó ở đâu?!"

"Hắn đây này!" Và cái anh chàng da nâu, to con hung hăng kia bèn ném xuống sàn một cái xác người...

À quên, xác người đâu mà xác người.

"Hả? Ở đâu cơ?" Arthur ngó nghiêng.

"Đây này!" Và anh chàng đó bèn chỉ ra. "Hắn ta đang ở trước mặt các vị đó, không thấy à?!"

Nhưng cả bốn người kia đều cúi xuống để nhìn kĩ vào cái thứ đang nằm sõng soài ra trước mặt họ và cùng có chung một kết luận: kẻ này chẳng giống Alfred chút nào. Cũng là mái tóc vàng hoe và cặp kính... nhưng mà thằng em trai oai phong lịch lãm của Amelia F. Jones-Braginsky đâu phải là cái thằng này.

"Không phải... tôi đã nói bao nhiêu lần với cậu... tôi là Matthew..." Và cái xác khốn khổ đó bắt đầu. "Tôi là Matthew Williams, không phải Alfred mà!"

"Hả?" Louise há hốc mồm. "Mấy người có nghe thấy nó nói cái gì không?"

"Hình như cái gì mà... nó không phải là Alfred hay sao ấy," Nikolai chớp chớp mắt. "Ôi mẹ ơi, chị hai đừng nói với em đây là một nhân bản robotcủa Alfred đấy nhé."

"Thôi im đi! Sao mày cứ phát ngôn câu nào là chị mày nghe phát rợn tóc gáy câu ấy vậy hả?"

Lời nói của Louise và Nikolai chẳng khác gì như mấy gáo nước lạnh đổ ập lên người cái cậu tên... (tên là gì nhỉ? À, phải rồi) Matthew Williams kia. Thật là đáng thương cho cậu. Đã bị nhầm là Alfred rồi, lại còn bị cái cậu Ericemdo Machado người Cuba kia lôi ra đánh đập cho tả tơi rồi mới mang về đây trình diện cho Tiểu thư Louise nữa chứ. Matthew muốn khóc rấm rứt trong nỗi uất ức lắm, nhưng rồi cậu không muốn phải chịu đựng thêm nữa, đành tuyệt vọng hét lên:

"Tại sao cậu lại không thể phân biệt được chứ?! Tôi là Matthew, người thừa kế của dòng họ Williams bên Canada, chứ không phải là Alfred F. Braginsky-Jones, kẻ thù của cậu!"

Im lặng một lát.

"Ê, con humanroid đó cựa quậy kìa!" Thực sự thì Nikolai không hề có ác ý khi nói câu đó.

"Humanroid nào?! Đây chính là Alfred F. Braginsky-Jones, kẻ thù số một của tôi! Tôi đã từng giao đấu với hắn nhiều lần rồi mà sao lại không nhớ cái mặt mo của hắn được," Ericemdo lớn tiếng khẳng định. "Hôm nay tôi cũng tức lắm, tính đánh hắn nhừ đòn cho hả dạ, nhưng lại nhớ là mọi người đang đi tìm hắn nên tôi không thể nặng tay được. Nhưng kể cũng lạ, hôm nọ tôi đánh nhau với Alfred thì hắn lại tỏ ra lì đòn hơn nhiều, vậy mà không hiểu sao hôm nay hắn ta lại trông yếu ớt thế."

"Híc híc híc!" Tội nghiệp Matthew. Cậu nhu nhược đến nỗi ai có thù oán gì với Alfred cũng đều mang gậy mang búa đến để xử đẹp cậu, trút giận lên cậu, coi cậu như một cái bao cát.

Nhưng mà vì sao họ lại không nhận ra cậu chứ? Một phần vì Matthew có bề ngoài khá giống Alfred, nhưng cũng bởi vì tiếng hét hết cỡ của Matthew đối với màng nhĩ của người khác cũng chỉ tới chừng volume... ba trên mười là cùng, nên cậu chưa bao giờ có thể cãi lại ai và nói rõ cho mọi người biết mình không phải Alfred.

"Gì kì vậy," Amelia nheo mắt, rồi chợt ngờ ngợ ra. "Này! Cậu đùa à, Ericemdo! Đây rõ ràng đâu phải em trai tôi. Mà là thằng Matthew Williams, em họ bên ngoại của tôi ấy chứ."

"Hả? Cái gì?!" Ericemdo kinh ngạc.

Đây rồi! Câu nói của Amelia cuối cùng mới chính là câu có tính khai sáng thực sự. Mọi người liền khựng lại như bị sấm động ngang tai.

"Hả? Là thằng nào cơ?" Arthur vẫn chưa thể nhớ ra.

"Giời ơi, sao anh lại lẩm cẩm quá vậy?! Suốt ngày gặp thằng bé ở trường mà lại không thể nhớ nổi tên của nó!" Amelia kêu lên. "Chính là thằng Matty nói tiếng Anh giọng lai Pháp hồi nhỏ vẫn đến chơi monopoly với tôi ở nhà anh đó, nhớ không?"

"Ấy khoan, đúng rồi, vậy mà bây giờ chị mới nhận ra!" Louise thốt lên. "Il est le fils de mon oncle Simon* (Nó chính là thằng con của người chú họ Simon của chị)! Thảo nào, chị cứ đếm nhẩm là có đến tám dòng họ danh giá nhất, vậy mà tự dưng thiếu mất đâu một gia tộc, tưởng là không xuất hiện trong bữa tiệc hôm nay chứ. Ai dè... Chậc, Arthur, anh vẫn còn ngơ ngác đến thế à? — nó là em họ của anh đấy! Mà Amelia này, sao em nhận ra nó hay vậy hả?"

"Còn phải hỏi nữa à?!" Matthew liền hét lên, nhưng lại một lần nữa, cái giọng đó đối với người khác thì chẳng khác gì như đang thều thào không hơn không kém, "Chính chị ấy và Alfred ở trường vẫn hay bắt nạt em! Khi em tự gắn sau đằng lưng mình tấm bảng có hình quốc kì Canada đề chữ in hoa, Tôi là Matthew Williams đi khắp trường để mọi người đỡ nhầm, thì chính họ đã lợi dụng lúc em không để ý, gỡ tấm bảng đó xuống và thay vào đó là gắn cho em tấm bảng có in hình hai quốc kì của Nga và Mỹ, ghi thêm ở giữa hàng chữ là Belongs to The Braginsky-Jones family! Thế là mấy bạn khác ai có thù oán với anh Alfred và Amelia đều truy đuổi em, mang gậy gộc đến đòi đánh em cho bằng được..."

"Hề hề, chị Louise cứ nói quá. Em nhận ra được thằng Matty cũng là nhờ tình thương cao cả của người chị gái dành cho đứa em trai bé bỏng thôi," Amelia vẫn không biết xấu hổ.

"Ờ, thế hả?" Louise giả vờ gật gù, nhưng thật bụng thì cóc tin vào cái miệng xoen xoét của Amelia. "Sao vừa nãy chị cố nghe kĩ lời thằng này nói thì hình như là mày với Alfred rất hay bắt nạt nó ở trường thì phải? Mà sao "người chị gái cao cả" lại có thể dẫm chân lên tay em mình thế kia?"

"À, vậy hoá ra nó không phải là một con humanroid," Nikolai cuối cùng cũng sáng mắt ra. "Mà là em họ nhà Williams."

"Oh, phải rồi! Tôi nhớ ra thằng đó rồi," Người cuối cùng là Arthur. Anh bèn thốt lên và xông tới nắm lấy cái tay èo uột của Matthew mà ban nãy đã bị Amelia dùng gót giày dẫm phải, và lay lay không ngừng, "Là Matty! Ôi, thế mà sao anh lại có thể quên bẵng mất thằng em họ dễ thương nhất của mình được cơ chứ. Lâu rồi không gặp, em có khoẻ không hả Matthew?"

"Híc... sao lại lâu rồi không gặp được," Matthew suýt bật khóc, lần hai. "Mới mấy hôm trước em vừa mới gặp anh ở trường để đưa tập tài liệu..."

Cái vấn đề ở đây là, Arthur lại không thể nhớ nổi chính Matthew đã đưa tập tài liệu đó cho anh. Anh chỉ đơn thuần nhận lấy xấp giấy tờ đó, rồi sau khi Matthew rời khỏi, anh bèn quên khuấy mất ai vừa đến văn phòng của mình và cứ ngỡ là chính những nàng tiên pixie nhỏ xíu cưỡi kì lân cầu vồng và chú thỏ màu xanh bạc hà có đôi cánh phép thuật đã đưa tập tài liệu cho anh, magically* (theo một cái cách thần kì) đến mức chúng ta có thể mạnh tay cộng điểm thêm cho đầu óc hoang tưởng của Arthur Kirkland mà không cần phải e dè gì cả và không quên rưng rưng nước mắt đưa ra thêm lời nhận xét, "Anh đúng là quá vô đối."

"Uầy, Arthur!" Louise gọi. "Bây giờ anh có nhớ ra nó thì cũng muộn rồi, nhé. Làm anh mà như thế đấy, chẳng thèm nhớ mặt mũi em mình. Thôi, nói chung là gút lại: rằng đây không phải là Alfred, và cậu Ericemdo đã nhầm rồi."

"Hơ, thế hoá ra không phải là Alfred à? Thật không đấy?" Ericemdo thất vọng, và cố nhìn kĩ lại gương mặt của Matthew. "Chậc, thế mà tôi cứ đinh ninh là cái cậu chàng yếu như sên này là Alfred! Thật là dại quá, đã khiến cho cậu ấy bị đòn oan rồi. Xin lỗi cậu nha, ừm... cậu Matthew à?"

"Vâng," Matthew gật đầu. "May quá, cuối cùng thì mọi người cũng đã nhận ra tôi."

"Này, mấy người làm sáng tỏ mọi việc rồi thì làm ơn xuống dắt nhau xuống dưới lầu đi ăn kem hay ăn chè gì gì đó đi cũng được," Louise thở hắt. "Chứ cứ nhầm lẫn kiểu thế này phiền phức lắm. Mấy người ngồi yên một chỗ còn giúp tôi đỡ nhức đầu hơn đấy!"

Thế là Ericemdo đồng ý, bèn xin lỗi vì đã làm phiền mọi người vì sự nhầm lẫn tai hại của mình và kéo Matthew đi ra khỏi phòng quan sát để xuống lầu ăn kem.

"Mày đúng là một cái con vô lối," Louise bèn mắng Amelia, sau khi đã thấy Ericemdo và Matthew đi khuất.

"Ơ? Em làm cái gì?" Amelia ngơ ngác.

"Còn phải hỏi nữa hả? Tội nghiệp Ericemdo, cậu ta vốn rất tốt bụng," Louise lắc đầu, thở dài. "Mày phải xem lại cái cách mày đối xử với mọi người ấy. Có khi em mày bị mất tích như thế này cũng là do chị em nhà mày đã gây thù chuốc oán quá nhiều, chứ không phải bỗng dưng mà tai hoạ nó tự mò đến đâu."

Nhưng ngay khi Amelia định mở miệng toan cãi lại, thì tiếng chuông iPhone của Louise chợt reo lên.

"Đổi nhạc chuông khác đi," Amelia gấm gẳn nói, lại nhắc tới cái vụ cãi nhau với Kiku ban nãy. "Hoạ cũng từ đó mà ra đấy."

"Mày câm miệng đi," Louise quạt lại, rồi lại tiếp tục nghe điện. "Alô, ai đấy?... Hửm, là Mikkel à, có chuyện gì vậy?"

Rồi bỗng, "Sao?! Có tin tức về thằng Alfred á?"

"Hả, Alfred? Là ai thế, Mikkel ở đầu dây bên kia à? Cô bật loa lớn lên cho chúng tôi nghe xem nào, Louise!" Arthur bèn phản ứng ngay.

"Có phải lại là nhầm giữa thằng Al với thằng Matty nữa không đấy?" Amelia cũng muốn nghe.

Và Louise mở loa. Tiếng của Mikkel nghe rõ ràng từ đầu dây bên kia, báo rằng:

"Nè, đó là nhờ Tiểu thư Angelique đấy. Xin lỗi nha Louise, tụi này biết là không được phép tiết lộ cho ai bất kì thông tin gì về vụ mất tích; nhưng mà dù sao cũng có chút manh mối gì đó rồi."

"Không phải, đó là nhờ công của bé Emil dễ thương, tay Mikkel này chỉ giỏi nhảy như con loi choi và làm đổ bể hết kế hoạch của tụi này thôi," Lukas lạnh lùng nói xen vào, khiến cho Mikkel bực mình quá mà huých tay em trai của mình ra, "Ê, anh phát ngôn là được rồi, nhé. Không đến phiên chú nói!"

"Mấy anh làm ơn thôi đi có được không? Việc chính thì không lo," Emil gắt, rõ ràng là đang cảm thấy rất khó chịu khi bị kẹt cứng giữa hai người anh trai.

Louise nghe đến đoạn đó thì chỉ biết chép miệng, "Chết tiệt, biết ngay là cả đám túm năm tụm ba thế này thể nào cũng có ngày sự nghiệp công chúng của mình đi tong mà. Nhưng thôi được rồi, dù sao thì đó cũng là Angelique — con bé có thể được xem như là một trong những đối tượng an toàn nhất để tiết lộ bí mật."

Chỉ riêng Nikolai thì trầm ngâm, "Chậc, đúng là vi phạm Luật Ba của chị hai có khác. Có hiệu quả ngay tức thì, nhỉ?"

"Mày đang giễu chị đấy hả, Nikolai? Mà năm cái thằng kia nữa, chúng bay đang ở đâu vậy?" Rồi cô hỏi tiếp, "Angelique có rời khỏi chỗ của mình không đấy?"

"Ange ấy à? Chưa, con bé vẫn đang còn phải chôn chân ở đằng kia kìa," Mikkel đáp. "Tụi này đang nấp ở đằng sau tấm rèm ấy, chứ bà chị có cách nào đẩy đám nhà báo kia sang chụp hình ở chỗ khác để kéo Angelique vào đây năm hay mười phút gì đó không, chứ động đậy cái gì thì cả đám kia lại nhao nhao lên, mệt lắm."

Tiểu thư Louise bèn suy tính đúng ba giây.

"Arthur và Amelia, cả hai người gọi điện cho thằng Giovanni đi, rồi cả con Monique và hai thằng Lovino và Feliciano nữa! Bảo chúng nó phải ra ngoài điều hành gian đại sảnh ngay lập tức và kéo Angelique ra đằng sau với bọn kia. Mau lên," Louise ra quyết định, rồi trầm ngâm, "Chúng ta sẽ có một màn nghỉ giải lao giữa giờ đấy."


Ở bên ngoài đã căng thẳng và hồi hộp như vậy rồi; nhưng cùng lúc đó, tình hình ở bên trong căn phòng nghỉ, nơi đã khoá trái cửa và tình cờ nhốt cả Alfred với Ngọc Hoa lại, cũng éo le chẳng kém. Và nếu có ai đó nói rằng đây chính là đỉnh điểm của câu chuyện tình trong bóng tối của đêm Valentine năm nay thì có lẽ, người đó cũng đã nói chẳng quá.

Vào đúng thời điểm mà Ngọc Hoa đang chuẩn bị lắng nghe lời nói chân thành và quan trọng nhất từ tận đáy lòng của Alfred, thì cô lại cảm thấy bối rối tột bậc. Mọi giác quan của cô bỗng trở thành những tia sáng nào đó chạy dọc khắp sống lưng, ra đến vai và đằng sau gáy của cô — giống như những chuyển động của sự sống không thể tài nào ăn khớp được với trái tim đang đập thình thịch trong lồng ngực, bộ phận duy nhất trong cơ thể mà dường như không bị cuốn theo tất cả tia sáng và những sự chuyển động không ngừng theo thời gian kia, mà ngừng lại. Chỉ riêng trái tim của cô là không còn biết đến thời gian nữa. Nó vẫn đập. Đập rất nhanh nữa là đằng khác.

Alfred nhìn thẳng vào mắt cô. Môi cậu chuẩn bị mấp máy điều gì đó.

"Em rất thích..."

"Khoan, chờ đã!" Cô bèn ngắt lời cậu, hai má đỏ bừng.

Ngọc Hoa định đẩy Alfred ra. Lùi lại. Nhưng cậu không bỏ cuộc. Cậu không thể để vuột mất cơ hội để nói với cô, là...

"Khoan đã nào! Này, đừng có lại gần đây," Hoa gạt Alfred ra, và cô càng lùi ra đằng sau hơn nữa.

"Không! Xin chị đấy. Chị nhất định phải nghe em nói!"

"Tôi đã bảo cậu là tránh ra mà — ! Ôi chao!"

Nhưng trong lúc đẩy Alfred ra xa, chân của Ngọc Hoa đã lỡ trượt phải một vật gì đó đang nằm giữa sàn. Cô lỡ lấy gót chân đá văng khiến nó đập mạnh vào chân giường, và nghe thấy tiếng "choang!" của vật đó bị gãy ra làm nhiều mảnh, và trong khi cô thì ngã ngửa ra cái giường nệm ở giữa gian phòng và Alfred, vì đang cố kéo tay Hoa lại nên khi cô bỗng dưng đổ sụp như thế, thì cũng mất đà mà ngã theo, lao đến và đè cả người lên Ngọc Hoa.

"Ui da... Này?!" Ngọc Hoa liền kêu lên, giãy giụa khi thấy gương mặt của chàng trai tóc vàng đang áp lại gần mình, còn cả hai người họ thì đang trong một tình thế rất dễ bị hiểu lầm. "Cậu tránh ra đi, đang làm cái gì thế?!

"Không, em không tránh!" Alfred kiên quyết. "Chị phải nghe em nói điều này đã. Em muốn nói... là em thích chị, Ngọc Hoa à!"

Một làn gió thổi vào phòng từ ô cửa sổ, khiến tấm rèm trắng nhẹ nhàng tung bay. Chúa Trời ngự trên bầu trời đêm Thánh Valentine; chẳng lẽ Người không hiểu là khi thấy Alfred đã dồn hết dũng cảm để nói cái lời chân thành nhất ấy, thì Người cũng đã phải ra lệnh cho các thiên thần nổi dàn kèn đồng thiên đường của họ lên, hoa lá vân vê rồi màu mè gì đấy bèn phất phơ rơi xuống và những tiếng tung hô dội vang từ hai phía, để, theo một cái cách kì diệu nào đó, giúp cho Ngọc Hoa nhận ra được tình cảm thực sự của mình với Alfred và sẵn sàng giang hai tay ra đón nhận nụ hôn cũng như trái tim yêu thương của cậu. Giống như những cuộc huê tình đầy biến động của cậu trước đó luôn luôn bắt đầu bằng âm nhạc và hàng loạt các chiếc siêu xe lẫn limousine, những cánh hoa hồng trải thành thảm và các cô gái may mắn được hẹn hò với cậu, dù chỉ một đêm duy nhất thôi, cũng đủ cảm thấy biết ơn và sau khi chấm dứt thì vô vàn tiếc nuối đến nỗi nguyền rủa cậu, bảo cậu đúng là đồ con trai trăng hoa và sẵn sàng nện gót giày cao gót vào cái mũi xe Ferrari mới toanh mà các cô ấy tưởng là có cậu trong đó "Ầm!" một cái và cậu sẽ đứng sững ở đằng kia, tự hỏi là không hiểu tại sao mình vẫn chưa thể phấn đấu bằng James Bond khi mà chẳng có cái thằng mafia xã hội đen nguy hiểm nào xuất hiện và làm cho cái xe Ferrari nổ uỳnh một phát, làm mất công cậu di chuyển từ cái Ferrari đằng này sang cái Lamborghini đằng kia với mục đích để tránh hoạ y như xi-nê. Và cậu sẽ đi vào trong xe, mở khoá, mặc xác cái luật là cần phải có bằng lái thì mới được cầm vô lăng bằng một vẻ duyên dáng nhưng đã bị xúc phạm và ngâm nga một câu hát trong bụng rằng, "Một cô gái quyến rũ, và là một con mẹ điên rồ". Trong khi với người thứ ba, có thể là một ông già đam mê thể loại triết học nửa mùa, già nua và có lối sống ẩn dật nào đó, trong quá khứ đã từng là một tay bợm khét tiếng ở Cựu Lục Địa nhưng bây giờ thì lại có làn da rám nắng nhăn nheo, đội mũ bêrê sờn cũ và đeo chiếc mục kỉnh hao hao giống cái ông luật sư đầy ám ảnh từng đôi lần trở về trong kí ức của Alfred, hàng ngày ngồi lê la trong một quán cà phê ven đường, gần biển xanh rì rào, uống expresso và giở ra một tờ báo còn cao hơn cả cái đầu của mình; thì ông ấy sẽ lạnh lùng chêm vào cho câu chuyện huê tình thoáng qua của Alfred với một câu nhận xét mang tính khách quan nhất, "Nồi nào vung nấy thôi, còn ca cẩm cái nỗi gì," khi thấy cậu vừa mới lướt đi trong chiếc Lamborghini thể thao xanh biếc và vượt qua cái quán cà phê nhỏ xíu đó trong cung đường trải nhựa rộng thênh thang, tóc vàng phơi phới trong làn gió biển đậm chất Tân Thế Giới.

Đúng. Có thể Chúa đã tính làm cả pháo hoa lẫn những dải kim tuyến reo hò, thậm chí còn lớn hơn cả những lần trước lắm chứ. Nhưng vì đến phút cuối, có vẻ như Người đã nghĩ lại và cho rằng cái cách tỏ tình phô trương đến mức lố bịch mà ẩn chứa bên trong có thể sẽ là cả một rủi ro về một cái kết đầy tuyệt vọng đó rõ ràng là không hợp với câu chuyện lần này của chúng ta chút nào; nên Người đã rút lại kế hoạch, bao gồm cả dàn kèn đồng ban phước và David's choir* (dàn đồng ca của Vua David) ban đầu để thay vào đó, dành cho tình yêu cao cả và dịu dàng của Alfred và Ngọc Hoa chỉ là ánh trăng sáng giản dị và những vì sao lấp lánh, cùng với một sự yên lặng tưởng chừng như là mãi mãi giữa hai người bao trùm lên bởi một không gian tĩnh mịch còn rộng lớn hơn của bầu trời đêm bên ngoài.

Và không biết bao nhiêu tích tắc trên cái kim đồng hồ đã lướt qua khi Alfred gần như cảm thấy quá xấu hổ, cảm động và mất sức, bèn bối rối đỏ mặt và hạ đầu lên bờ vai của Ngọc Hoa.

"Em thực sự rất, rất thích chị đấy, Hoa à," Và Alfred thiết tha nhắc lại lần nữa.

Nhưng Ngọc Hoa như trở nên kinh ngạc. Cô căng hai mắt ra. Trong bóng tối, mái tóc vàng của Alfred cứ khẽ chạm vào đôi môi và cằm của cô. Hơi thở của cô sà xuống mái tóc ấy, nhẹ nhàng, nhưng không hiểu sao lại ngắn và hơi gấp gáp; cùng với cảm giác về bờ vai trái đang bị bàn tay của Alfred giữ chặt: và cả thân hình của cậu như sắp đổ sụp xuống người cô. Mọi nơi trên cơ thể cô đều có thể cảm nhận được từ cậu ấy; trái tim, hơi ấm. Nhưng trên cả, thứ khiến cho cô cảm nhận được rõ ràng nhất lại chính là...

"Ui da, đau quá!" Và cô bỗng kêu lên.

"Hả?" Alfred bỗng nhỏm dậy. Cậu thấy Ngọc Hoa đang hơi nhíu mày, "Có chuyện gì vậy ạ?"

"Đau, đau quá! Bàn... bàn chân tôi," Hoa nói. "Hình như nó bị cái gì đâm phải hay sao ấy. Bỗng dưng tôi thấy xót quá đi."

Alfred nghe thấy thế, bèn nhanh chóng thả Ngọc Hoa ra.

"Sao thế? Chị có làm sao không?" Cậu lo lắng hỏi.

Tuy nhiên Ngọc Hoa lại không đáp lại, chỉ nhăn mặt, lắc đầu ra hiệu là cô không biết và cởi chiếc giày cao gót ra. Bấy giờ thì cả cô với Alfred mới phát hiện ra là do một mảnh thuỷ tinh đã dính và cứa vào phần da ở dưới mé bàn chân cô, khi cô bị ngã xuống giường.

"Cũng chẳng bị gì nghiêm trọng lắm đâu," Hoa nói, xoa xoa tay lên chỗ vết xước. "Chỉ chảy máu tí xíu thôi."

"Ơ, sao chị lại nói là không sao được! Chị ở yên đây nhé, để em thử tìm xem trong phòng có cái băng cá nhân nào không. Thật đúng là, sao tự dưng lại có cái một thứ đồ thuỷ tinh đặt ở giữa sàn nhà như vậy chứ? Thứ đó ở đâu vậy?"

"Ê ê, không cần đâu, chỉ là một vết xước nhỏ thôi! Chảy máu tí rồi liền lại ngay ấy mà. Cậu nên cẩn thận thì hơn — tối thế này thì không nhìn rõ gì đâu, có thể ở trên sàn còn vung vãi nhiều mảnh thuỷ tinh vỡ đấy!"

"Nhưng dù thế nào thì chị cũng phải để em xem qua!"

Alfred vốn khá cứng đầu. Nhưng khi cậu định giằng lấy tay Hoa và kiên quyết muốn xem "vết thương" của cô, thì bỗng, hai người dừng lại, nhận ra một điều gì đó và thẹn đỏ cả mặt.

"Xin lỗi!" Alfred bèn thả tay Ngọc Hoa ra và quay mặt đi. "Em không nên ép chị."

"À, không sao đâu mà," Hoa nói, hơi ngập ngừng. "Cảm ơn, vì cậu đã lo cho tôi."

Rõ ràng là hai người vừa nhớ tới chuyện ban nãy.

Alfred lén nhìn Ngọc Hoa, và Hoa cũng lén nhìn lại cậu. Nhưng rồi ánh mắt của hai người lại chạm phải nhau. Họ lại đỏ mặt bừng bừng, và phải giả vờ ngoảnh đi lần nữa.

"Đúng rồi! Chuyện vừa nãy!" Cuối cùng Alfred bèn lên tiếng trước.

"A! Hả? Cái đó... tôi..." Ngọc Hoa giật mình, hồi hộp quá nên suýt lắp bắp không thành lời.

Alfred thở sâu, rồi bèn dồn hết can đảm, nói:

"Chị Hoa à, chuyện vừa rồi... chị không cần phải suy nghĩ quá nhiều đâu."

"Hơ?" Hoa ngẩng mặt lên, ngạc nhiên.

"Ý em là — quả thật những điều em nói là rất chân thành. Em thực sự rất mến chị, cho dù vào lúc này chị có thể không đáp lại tình cảm của em đi chăng nữa," Alfred tiếp tục, và lại hướng mắt về phía Ngọc Hoa, tuy nhiên lần này lại với vẻ bình tĩnh, dịu dàng, và không khí giữa hai người cũng đã bớt hồi hộp hơn. "Người ta luôn khuyên là em phải biết kìm nén và kiên nhẫn với tình cảm của mình, và đã có một số chuyện hiểu lầm giữa em và chị, khiến cho em không có cách nào để bày tỏ trực tiếp với chị được. Nhưng mà... em rất sợ chị ghét em."

Nói đến cái câu cuối thì Alfred không thể nào che giấu nổi sự đau khổ và thất vọng của mình.

"Ấy, ai lại nghĩ thế? Tôi nghĩ cậu cũng đâu đến nỗi," Ngọc Hoa bèn an ủi Alfred, cảm thấy hơi tội lỗi vì dường như ngày hôm qua, cô đã đối xử không tốt với Alfred, hay thậm chí còn tệ hơn nữa là chà đạp lên tình cảm của cậu.

Rồi cô nói tiếp, "Cho dù đi chung với cậu thì đúng là cũng gặp nhiều chuyện phiền phức thật..."

Hự! và Alfred liền có cảm giác như bị một mũi tên sắc nhọn đâm xuyên qua tim, khổ sở đến mức thậm chí còn không thể ngẩng mặt lên.

"Nhưng mà, điều đó đâu có nghĩa là tôi ghét cậu," Ngọc Hoa lúng túng. "Thực lòng thì... tôi chỉ cảm thấy hơi khó xử thôi, khi cậu nói với tôi những lời như thế."

"Em biết chuyện được chị thích lại là điều hết sức xa vời," Alfred thu nhỏ lại trong nỗi u ám.

"Ừ, công nhận," Hoa buột miệng.

Và Hự! Alfred lại bị mũi tên bắn xuyên ngực, đợt hai. Bây giờ thì các độc giả có thể yên tâm để cho chàng trai tóc vàng của chúng ta giãy đành đạch trong cái vũng máu sặc mùi đau khổ của cậu ấy để đi ngồi chơi xơi nước được rồi.

Tự dưng Ngọc Hoa lại không muốn nói thêm một điều gì nữa, sợ rằng nó sẽ lại làm tổn thương trái tim của Alfred. Nhưng phải nghĩ sao đây nhỉ? Ngọc Hoa không thể phủ nhận, là chí ít cô cũng có một chút gì đó được gọi là cảm xúc đặc biệt khi ở bên cạnh Alfred. Phải chăng là bởi vì Alfred đã khiến cho cô phải chú ý đến khi cậu đang hăng say chạy trên sân bóng rổ trong trận đấu chung kết hôm đó, vì cậu đã ngẩng đầu lên và ánh mắt của hai người đã tình cờ gặp nhau trong ngàn nắng mơ mộng? Hay vì lần những lần tái ngộ sau đó đều mang lại cho Hoa những bất ngờ thú vị; trong lớp học, ở câu lạc bộ, rồi đến vũ hội? những lời nói, những cái ôm siết chặt làm cho cô phải rung động, rối bời — mặc dù khoảnh khắc tưởng chừng như tươi đẹp giữa hai người rồi cũng sẽ bị phá hỏng một cách lãng xẹt và vỡ mộng vì cái tính như trời đánh của Alfred đi chăng nữa, ở đây người kể chuyện xin có một phút đằng hắng và đóng mở ngoặc.

Chừng đó thôi cũng đã đủ khiến Ngọc Hoa nhớ lại và cảm thấy hai má của mình như đang đỏ bừng lên, đến nỗi cô phải cố che giấu gương mặt của mình khỏi ánh nhìn của Alfred và tìm cách không suy nghĩ về kỉ ức giữa hai người nữa.

"Nhưng... nhưng mà..." Alfred cố gượng dậy. "Nhưng mà như thế đâu có nghĩa là em sẽ không còn chút cơ hội nào, đúng không? Chị vẫn sẽ cho phép em được tiếp tục theo đuổi chị chứ, Ngọc Hoa?"

"Ờ thì... ừm," Hoa mím môi, vẫn đang cố cân nhắc, chỉ hơi gật đầu một chút để đáp lại Alfred.

Chẳng lẽ tuyệt vọng đến vậy sao? Nhưng Alfred vẫn đang nhìn Hoa, chờ đợi.

"À, thực sự thì không thể phủ nhận là cậu cũng có chút ưu điểm," Hoa dè dặt nói.

"Ủa, vậy tức là chị khen em cũng có nét dễ thương hả?" Alfred tưởng bở ngay.

Ngọc Hoa liền chớp chớp mắt nhìn Alfred, rồi đập tay lên trán như thể bị say sóng.

"Này, đừng có hiểu sai lời tôi nói như vậy chứ. Tôi nói cậu là cũng có điểm tốt đâu phải là khen cậu dễ thương!"

"Ứ ừ, nhưng hai cái đó thì khác nhau chỗ nào chứ?!" Alfred bèn nhõng nhẽo như con nít. Cuối cùng, hai mắt của cậu bèn sáng rực lên tia hy vọng mới và hạ quyết tâm vồ lấy tay của Ngọc Hoa, "Chị Hoa, em quyết định rồi, em vẫn sẽ tiếp tục theo đuổi chị. Em sẽ khiến cho chị thích em! Và trong tương lai chúng ta cùng hôn nhau say đắm trên một toà nhà cao chót vót như Tony Stark đã hôn Pepper Potts vào cuối phim Iron Man phần hai và sau đó thì làm đám cưới ở New York, thề nguyện là sẽ sống bên nhau trọn đời trước khi dắt tay nhau ra khỏi nhà thờ trong tiếng hò reo chúc phúc của mọi người và dàn chuông thánh đường ngân vang; chúng ta sẽ cùng đi hưởng tuần trăng mật ở Moscow và sau đó là đi du lịch vòng quanh thế giới! Còn nữa, em thề với chị là sau vụ này em sẽ bỏ bạn gái và tuyên bố trước cả toàn thế giới để họ biết là em thích chị; và nếu chị muốn, thì em sẽ thiết kế cả một du thuyền lộng lẫy mang tên chị và chúng ta sẽ cùng nhau cập đến bến bờ đôi lứa hạnh phúc ở Monaco."

"Cậu bị điên à?! Đang lẩm bẩm cái quái gì thế? Có bỏ tay tôi ra không thì bảo!" Ngọc Hoa nhảy dựng lên. "Bộ cậu nghĩ là tôi thích thú với ba cái mớ — Ouch, đau quá!"

"Ơ? Cái gì vậy ạ?"

"Không, hình như là chân tôi bị trượt, làm toác vết xước cũ. Chậc, sao xui xẻo thế không biết nữa."

Alfred im lặng một lúc, rồi cậu cúi xuống để tìm xem cái thứ mà Ngọc Hoa đã dẫm phải ban nãy là vật gì. Trên sàn tuy vung vãi một số mẩu nhỏ của cái vật bị đạp gãy đó, nhưng hai mảnh lớn nhất vẫn còn và được Alfred cẩn thận cầm lên và ghép lại.

"A, chị Hoa, xem này! Hình như đó là một chiếc mặt nạ Venice làm bằng thuỷ tinh. Phải rồi, vừa rồi lúc mới bước vào đây dường như em cũng đã đụng phải nó. Tưởng nó là cái gì chứ!"

"Mặt nạ? Ơ, phải chăng đó là của...?"

"Sao trông nó quen quen vậy nhỉ?" Alfred ngờ ngợ.

Và bỗng chốc cả hai cùng nhận ra, đó là chiếc mặt nạ của Wang Yao. Ngọc Hoa thì không nhớ rõ hình dáng của chiếc mặt nạ ấy, nhưng rõ ràng trước lúc bị bất tỉnh, cô đã nhìn thấy bố cô có đeo một chiếc mặt nạ và có lẽ là khi cái tên bịt mặt bí hiểm kia bất ngờ xông ra đánh thuốc mê, thì ông ấy, vì cố chống cự nên đã làm rơi chiếc mặt nạ xuống sàn. Còn Alfred thì nhận ra được đó là mặt nạ của ông Yao, bởi vì cậu đã từng thấy rõ nó trong buổi biểu diễn trước buổi tiệc — Yao đã sử dụng nó để chiếc mặt nạ màu xanh dương này hoá trang vào nhân vật Jack of Spades; và đây, thậm chí còn có cả dấu biểu tượng của quân Bích được khắc trên chiếc mặt nạ và những chi tiết bằng vàng điểm xuyết, một số viên ngọc lam bảo nhỏ xíu và lông vũ màu xanh da trời được trang hoàng khắp chiếc mặt nạ.

"Hình như là của chú Wang Yao hay sao ấy — ," Alfred nói, gần như không thể tin được.

"Đúng rồi... Mà chờ đã, bộ cậu cũng biết ông ta à?" Ngọc Hoa bèn khựng lại.

"A! — dạ vâng!" Lần này thì đến lượt Alfred giật mình. "Ông ấy... cũng có qua lại với gia đình em."

"Ông ta lúc nào cũng chỉ giỏi gây phiền phức thôi!" Hoa lẩm bẩm.

"Ủa? Chị cũng biết ông ta à?" Alfred hỏi.

"Tôi thèm vào mà quen biết với cái loại người vô tâm như thế!" Ngọc Hoa gắt, và điều này khiến cho Alfred hết sức kinh ngạc. "À không, ý tôi là — phải rồi, Alfred à, chúng ta phải mau chóng thoát ra khỏi đây thôi."

"Sao thế? Có chuyện gì cấp bách à?"

"Chuyện dài dòng lắm! Nhưng nói tóm gọn là bố — à quên, cái ông Wang Yao đó đã bị bắt cóc bởi một tên bịt mặt nào đó. Tôi lo là không biết sẽ có chuyện xảy ra với ông ta. Tên bịt mặt đó đáng sợ lắm; tôi đã đánh nhau với hắn và tìm cách giải thoát cho ông ta rồi nhưng cuối cùng lại chụp thuốc mê, rồi bị ném vào đây," Hoa sốt sắng nói. "Nếu chúng ta không sớm thoát ra khỏi đây để báo với người khác, thì tôi e rằng ông ta sẽ gặp nguy hiểm mất!"

"Chị bình tĩnh lại nào, chị Hoa," Alfred trấn an. "Bây giờ thì khó mà thoát ra khỏi căn phòng này lắm. Từ cửa sổ cho đến mặt đất cũng phải tới hai trăm mét lận. Hơn nữa, nói như vậy thì hơi vô lý — sao lại có chuyện bắt cóc xảy ra ngay ở giữa buổi vũ hội, trước mũi chị Louise được. Nhất là khách quý như Ngài Wang Yao thì hoàn toàn không thể, bởi vì ông ta được các vệ sĩ bảo vệ rất nghiêm ngặt."

"Nhưng... nhưng rõ ràng là tôi đã trông thấy tận mắt mà! Sao lại không thể có chuyện đó được! Cho dù hành lang lúc đó khá tối, nhưng tôi vẫn có thể nhìn rõ thấy tên bịt mặt đó: hắn ta có dáng người cao ráo, thân hình cũng hao hao giống như cậu vậy, là người da trắng, có mái tóc bạch kim và rất giỏi võ," Hoa kể lại. "Tôi chỉ không nhớ rõ mỗi màu mắt của hắn thôi — là màu gì nhỉ? Hình như đó là cái màu tim tím kiểu sắc hoa violet gì đó, có thể là đó là do màu xanh biếc nhưng nhìn thoáng qua tôi cứ tưởng là màu tím chăng?"

"Ủa?" Alfred sựng lại, chớp chớp mắt. Bỗng dưng sao cậu thấy mấy cái chi tiết này nghe có vẻ quen quen, "Mắt tím giống như Elizabeth Taylor* đó hả?"

"Ừ, đúng rồi! Là kiểu đó đó."

Và rồi cậu lại im lặng nữa. Xem nào: bắt cóc Wang Yao, tóc bạch kim, mắt màu tím biếc, cao và có thân hình hao hao giống cậu, giỏi võ và không hiểu từ đâu chui ra rồi chụp thuốc mê người ta... Những chi tiết này khiến cậu liền nhanh chóng liên tưởng đến một người.

"Hê? Hình như là..." Alfred bắt đầu nhận ra.

"Đúng rồi, mà hình như hắn còn mang theo cả một con dao găm nữa!" Ngọc Hoa nhớ lại.

Đến đoạn này thì hết nghi ngờ được nữa rồi. Alfred bèn lấy tay đập trán một phát, và điều này khiến cho Ngọc Hoa cực kì ngạc nhiên.

"Nikolai! Mày thật đúng là cái thằng gây ra lắm chuyện!"

"Hả? Cậu đang nói tới ai thế?"

"A, dạ không, em chỉ đang định nói là chị cứ yên tâm đi; Ngài Wang Yao hiện giờ vẫn đang còn sống, và có thể sẽ không gặp phải nguy hiểm nào đâu nên chị đừng quá lo lắng."

"Nhưng làm sao cậu biết được?"

"Chị cứ yên tâm, em biết tính thằng này mà. Nó chưa giết người bao giờ đâu, chỉ là làm cho người ta sống không bằng chết thôi," Alfred nói.

Im lặng. Và Ngọc Hoa chơm chớp mắt, không hiểu cậu đang lẩm bẩm cái gì.

"Ơ, thế thì cậu bảo tôi không lo sao được chứ?" Cô hỏi.

Và nếu có ai đó đồng ý với người đã nhận xét đây chính là kết thúc đoạn đỉnh điểm của câu chuyện tình trong bóng tối của đêm Tình nhân Thánh Valentine, thì chắc hẳn các vị đã đúng rồi. Bởi vì từ đây, những cuộc tìm kiếm chạy vòng quanh và cũng là những cuộc phiêu lưu nhằm truy tìm ra những mối liên hệ tuy đơn giản nhưng lai5 bị phức tạp hoá và cứ đan chồng đan chéo lên nhau vì những người trong cuộc mập mờ không hiểu hết về chúng, sẽ bắt đầu chạy nước rút và nhìn thấy được sự thật cuối cùng: trong tiếng hét, tiếng gào và tin hiệu rú còi ầm ĩ.

~ Chú thích ~

Thánh Lawrence thành Roma (San Lorenzo) Thánh bảo hộ cho thư viện và những người thủ thư, những người lưu trữ văn thư. Ở Mỹ thì người ta tôn Thánh Jerome là Thánh bảo hộ cho thư viện và các thủ thư, nhưng ở châu Âu thì người giữ vị trí này là Thánh Lawrence.

Machiavelli (Niccolò di Bernardo dei Machiavelli) (1469-1527) Nhà ngoại giao, nhà triết học chính trị, nhạc gia, nhà thơ, nhà soạn kịch sống vào thời kì Phục Hưng của Italia. Được xem như là một trong ông tổ của ngành chính trị hiện đại. Nói chính xác ra là tác giả cũng chẳng muốn tìm hiểu về ông này lắm đâu nhưng trong bản anime gốc là có lần bé Italy đã đưa cái ông Machiavelli này ra cho bạn Doitsu nên chúng ta hãy chuyển sang đề tài khác.

Thánh Francis de Sales (tiếng Pháp: François de Sales) sinh năm 1567 tại Công Quốc Savoy (Duchy of Savoy), nay thuộc xã Thorens-Glières, Haute-Savoie của Pháp. Thánh bảo hộ cho các nhà văn và nhà báo.

Basilisk và Nagini (Harry Potter) xin hãy đọc Harry Potter để biết thêm chi tiết. Nói tóm lại đây là hai con mãng xà, và chúng rất ác, và đều có liên quan đến thằng cha Voldemort. Và tác giả không muốn kể tiếp nữa bởi vì một, ai cũng biết rồi và hai, nếu không biết thì không muốn bị mang tiếng là spoiler.

The Exorcist: (used to be or still?) an American horror classic.

Yamamura Sadako (The Ring) nhân vật chính và cũng là kẻ phản diện trong một bộ phim kinh dị của Nhật Bản. Again, xem thông tin về The Ring để biết thêm chi tiết. Bạn nào dũng cảm thì chắc đều đã xem hết cả rồi. Tác giả không muốn múa rìu qua mắt thợ.

A Tale of Two Sisters: phim kinh dị của Hàn Quốc.

David's choir: Dàn đồng ca của Vua David. Trong sách Kinh Thánh hình như có nói "dàn đồng ca" (tạm dịch từ "choir") đầu tiên được chỉ định bởi Vua David, khoảng 3000 năm trước thì phải?

Elizabeth Taylor (1932-2011) Một trong những nữ diễn viên huyền thoại của điện ảnh Mỹ. Đôi mắt xanh thẳm của bà khi nhìn vào thì sẽ tưởng là màu tím (violet).